- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu M - Hà Thanh Q"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử vắng mặt đối với ông Hà Thanh Q:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1293/2017/HNGĐ-ST Ngày: 12-12-2017 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Loan
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Minh Đang
2. Bà Nguyễn Thị Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Tuyết Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 435/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2017/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2017/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1984 (Đương sự vắng mặt);
Hộ khẩu thường trú: 128 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện cư trú tại: 131 Đường N, Phường M, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Hà Thanh Q, sinh năm 1985 (Đương sự vắng mặt);
Địa chỉ: 128 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2017 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu M trình bày:
Bà M và ông Hà Thanh Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/2008 tại Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp,ông Q sống không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên cải vã, xung đột với nhau. Mặc dù bà M đã nhiều lần cố gắng hàn gắn, hòa giải nhưng không thành nên đã ly thân từ tháng 11/2016 cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà M yêu cầu được ly hôn với ông Hà Thanh Q.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung tên Hà Gia V, sinh ngày 08/4/2009, hiện trẻ V đang sống cùng bà Mỹ. Ngoài ra, vợ chồng không có con chung nào khác. Bà Nguyễn Thị Thu M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Hà Thanh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà M xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hà Thanh Q đã được Tòa án tống đạt, triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử; Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ông Hà Thanh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được.
Ông Q đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M và ông Q.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu M thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn ông Hà Thanh Q cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về các yêu cầu của đương sự:
Xét thấy, bà Nguyễn Thị Thu M cùng ông Hà Thanh Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu M cho rằng mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, ông Q sống không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên cải vã, xung đột với nhau. Mặc dù bà M đã nhiều lần cố gắng hàn gắn, hòa giải nhưng không thành nên đã ly thân từ tháng 11/2016 cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà M yêu cầu được ly hôn với ông Hà Thanh Q.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Hà Thanh Q để lấy lời khai và tạo điều kiện cho vợ chồng hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưngông Q vắng mặt và ông cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiệnông Q không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.
Về nuôi con chung: Bà Mtự khai trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 (một) con chung tên Hà Gia V, sinh ngày 08/4/2009, hiện trẻ V đang sống cùng bà Mỹ. Ngoài ra, vợ chồng không có con chung nào khác. Xét nguyện vọng của trẻ V tại bản tự khai đề ngày 05/5/2017 trình bày “nếu ba mẹ không còn chung sống với nhau con có nguyện vọng được sống với mẹ”. Nay bà Myêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầuông Q cấp dưỡng nuôi con. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho bà Mtiếp tục nuôi con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con choông Q cho đến khi bà Mcó yêu cầu là phù hợp.ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu M xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử vắng mặt đối với ông Hà Thanh Q:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu M đối với ông Hà Thanh Q.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Hà Gia V, sinh ngày 08 tháng 4 năm 2009 cho bà Nguyễn Thị Thu M trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông Hà Thanh Q cho đến khi bà Mcó yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Thu M phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0027157 ngày 17 tháng 4 năm 2017 của Chi thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - UBND Phường 14, Q8; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Loan |