- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Bảo L Và đồng phạm - Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp - xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (điều 226 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2026/HS-ST Ngày: 17-03-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Ngọc
2. Bà Nguyễn Phước Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2026 Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 325/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 409/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2026/HSST-QĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2026/HSST-QĐ ngày 26 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2026/HSST-QĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 133/2026/HSST-QĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Bùi Bảo L; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990; Nơi sinh: tỉnh Hưng Yên (tỉnh Thái Bình trước sáp nhập); Số CCCD: 034090004359; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C154 tầng 15 chung cư A, số I Hậu Giang, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: kinh doanh; Họ và tên cha: Bùi Minh L1, sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Phan Thị N, sinh năm: 1969; Anh chị em ruột có 04 người kể cả bị cáo; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Trúc L2, sinh năm 1991 và 01 người con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Đào Thị N1; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1990; Nơi sinh: Hà Nội; Số CCCD: 001190024750; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Họ tên cha: Đào T, sinh năm 1967; Họ và tên mẹ: Tạ Thị V, sinh năm 1972 (chết); Anh chị em ruột có 03 người kể cả bị cáo; Bị cáo có chồng tên Ngô Văn K, sinh năm 1985 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
II. Những người tham gia tố tụng:
1. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Bảo L: Luật sư Nguyễn Thế C – Luật sư thuộc Công ty L3 (có mặt).
Địa chỉ: B B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị hại: Công Ty TNHH MTV S
Địa chỉ: Số B N, phường A, Thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1980.
Đại diện ủy quyền: Ông Dương Thế H, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: H, T, Thành phố Hà Nội.
3. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Huy H1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: A P, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty TNHH Đ1.
Địa chỉ: 5 T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Bảo L, sinh năm 1990.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Trúc L2, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: 5 T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngân hàng TMCP Q.
Địa chỉ: C N, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 00 ngày 8/9/2022, tại đường Đ, ấp H, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H phối hợp cùng Công an xã B, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra phát hiện 01 xe ô tô tải mang biển kiểm soát 50H-080.05 do tài xế Trần Huy H1 điều khiển chở theo Bùi Bảo L có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện trên thùng xe có chứa tổng cộng 105 thùng đá cắt kim loại gồm: Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 105x1.2x16 mm, số lượng 35 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 100 cái đá cắt; Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEQLD TIGER, kích thước 105x1.2x16 mm, số lượng 15 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 100 cái đá cắt; Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 125x1.2x22 mm, số lượng 05 thùng, mỗi thùng có 12 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 50 cái đá cắt; Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 355x3.0x25.4 mm, số lượng 50 thùng, mỗi thùng có 30 cái cái đá cắt, không có hóa đơn, chứng từ để chứng minh nguồn gốc xuất xứ của lô hàng trên nên Tổ tuần tra đã đưa H1 và L cùng tang vật về cơ quan Công an để làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận: Số hàng hóa trên là của L mua về để bán kiếm lời. Sáng ngày 8/9/2022, L nhận được điện thoại Z từ tài khoản Zalo tên “Dương Hiệp” (không xác định rõ lai lịch) hỏi mua 105 thùng đá cắt kim loại THEOID TIGER. L báo giá cho “Dương Hiệp” với tổng giá trị đơn hàng là 100.000.000 đồng.
Sau khi thống nhất thỏa thuận giá bán với tài khoản Zalo tên “D”, L liên lạc với Đào Thị N1 sử dụng tài khoản Zalo “Khánh N” để hỏi mua số lượng đá cắt như nêu trên với tổng giá tiền là 95.000.000 đồng và thống nhất khi nào bán được hàng thì sẽ thanh toán. Sau đó, N1 liên lạc với người tên D (chưa rõ lai lịch) đặt mua số hàng trên với giá 90.000.000 đồng rồi đem về bán lại cho L kiếm lời. D cung cấp 02 địa điểm để giao hàng là H P, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh và B A, phường A, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên N1 yêu cầu L đến 02 địa chỉ trên nhận hàng.
Khi thỏa thuận xong, L điện thoại yêu cầu H1 lái xe ô tô biển số 50H-080.05 đến địa chỉ H P, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh nhận 5 thùng đá cắt loại D125; 43 thùng đá cắt loại D350, rồi tiếp tục đến B A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nhận 46 thùng đá cắt loại D100. Sau khi lấy hàng xong từ hai địa chỉ trên thì quay về địa chỉ số E L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh lấy thêm 7 thùng đá cắt loại D350 và 4 thùng đá cắt loại D100. Khi đã đủ số hàng L yêu cầu tài xế H1 chở L cùng hàng đi đến H giao cho người có tên tài khoản zalo “Dương Hiệp” thì bị Công an kiểm tra phát hiện như đã nêu trên. L xác định chỉ liên lạc qua tài khoản zalo “Khánh N” khi mua số đá cắt kim loại trên, không biết rõ nhân thân lai lịch của người bán hàng và khi nhận hàng cũng không có hóa đơn chứng từ gì; L mới bán lần đầu số đá cắt kim loại với tài khoản zalo “Dương Hiệp”.
* Tại Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH743-22TC.TP/KLGĐ ngày 19/12/2022 của Viện Khoa học sở hữu trí tuệ:
1. Trong trường hợp ông Bùi Bảo L không chứng minh được rằng sản phẩm đá cắt kim loại là do Chủ sở hữu nhãn hiệu (Công Ty TNHH MTV S1) hoặc do người được Công ty này cho phép sản xuất và đưa ra thị trường thì: Dấu hiệu “THEOID TIGER” gắn trên bao bì và nhãn hiệu trên sản phẩm đá cắt kim loại – như thể hiện tại trang 2, 4-7, 9-12,15-18 của tài liệu 1 là yếu tố xâm phạm quyền (quy định tại Điều 11 Nghị định 105/2006 sửa đổi) đối với Nhãn hiệu được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 325846 của Công Ty TNHH MTV S1;
2. Trong trường hợp ông Bùi Bảo L không chứng minh được rằng sản phẩm đá cắt kim loại là do Chủ sở hữu nhãn hiệu (Công Ty TNHH MTV S1) hoặc do người được Công ty này cho phép sản xuất và đưa ra thị trường thì: Dấu hiệu “THEOID TIGER” gắn trên bao bì và nhãn hiệu trên sản phẩm đá cắt kim loại – như thể hiện tại trang 1,7,12,13,18 của tài liệu 1 là yếu tố xâm phạm quyền (quy định tại Điều 11 Nghị định 105/2006 sửa đổi) đối với Nhãn hiệu được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 325846 của Công ty TNHH một thành viên S1;
3. Không đủ căn cứ để khẳng định rằng: sản phẩm đá cắt kim loại gắn dấu hiệu “THEOID TIGER” như thể hiện tại trang 2, 4-7, 9-12, 15-18 của tài liệu 1 là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 325846 cho sản phẩm đá mài, đĩa mài- Nhóm 08 của Công Ty TNHH MTV S1 (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
4. Không đủ căn cứ để khẳng định rằng: sản phẩm đá cắt kim loại gắn dấu hiệu “THEOID TIGER” như thể hiện tại trang 21,7,12,13,18 của tài liệu 1 là hàng hóa giả mạo đối với nhãn hiệu được bảo hộ theo GCN ĐKNH số 325846 cho sản phẩm đá mài, đĩa mài - Nhóm 08 của Công ty TNHH một thành viên S1 (theo Điều 213.2 Luật SHTT). (BL113-127)
* Tại Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H: 105 thùng đá cắt kim loại trên trị giá là 233.500.000 đồng. (BL130-133)
* Tại công văn số 11-23/CVJT ngày 15/8/2023 của Công Ty TNHH MTV S1:
- Công Ty TNHH MTV S1 đang nhập khẩu và thương mại sản phẩm đá cắt sắt là chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu độc quyền tại Việt Nam THEOID TIGER theo giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu 325864 do Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 02/8/2019.
- Hiện tại Công Ty TNHH MTV S1 đã đăng ký và phân phối sản phẩm đá cắt sắt, đá mài, dụng cụ cầm tay nhãn hiệu THEOID TIGER sở hữu thương hiệu độc quyền, ngoài ra các đại lý phân phối có văn bản chỉ định thương hiệu do Công Ty TNHH MTV S1 cung cấp, giá niêm yết chúng tôi cung cấp.
- Chúng tôi xin cam kết thương hiệu của chúng tôi nhập khẩu và phân phối độc quyền tại Việt Nam, ngoài ra các đơn vị khác nhập khẩu và sản xuất đều là hàng giả mạo chất lượng kém lừa dối người tiêu dùng.(BL71)
* Tại Bản kết luận giám định số 1560/KL-KTHS ngày 25/5/2025 của Phân viện KHHS tại TP . kết luận: Mẫu đá cắt nhãn hiệu “THEOID TIGER” của mẫu giám định với mẫu đá cắt nhãn hiệu ‘THEOID TIGER” của mẫu so sánh, đều có thành phần hóa học khác nhau. (BL355)
Về vật chứng:
- 105 thùng đá cắt kim loại, gồm:
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 35 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEQLD TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 15 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 125x1,2x22 mm, số lượng 05 thùng, mỗi thùng có 12 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 50 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 355x3,0x25,4 mm, số lượng 50 thùng, mỗi thùng có 30 cái đá cắt.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, L dùng vào việc liên lạc mua bán đá cắt kim loại.
- 01 xe ô tô tải và 01 giấy kiểm định, biển số 50H-08005, qua xác minh thuộc sở hữu của Công ty TNHH Đ1, L tự lấy làm phương tiện phạm tội, Công ty TNHH Đ1 và TM Tùng L không liên quan đến việc phạm tội của L.
Về phần dân sự: Ông Nguyễn Duy Đ – Giám đốc Công ty TNHH MTV S1 đã có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKSKV8 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Bảo L, Đào Thị N1 về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo khoản 1 Điều 226 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị phạt tiền bị cáo Bùi Bảo L từ 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng đến 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị phạt tiền bị cáo Đào Thị N1 từ 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng đến 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng của vụ án:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 105 thùng đá cắt kim loại, gồm:
Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 35 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEQLD TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 15 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 125x1,2x22 mm, số lượng 05 thùng, mỗi thùng có 12 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 50 cái đá cắt.
Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 355x3,0x25,4 mm, số lượng 50 thùng, mỗi thùng có 30 cái đá cắt.
+ Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, L dùng vào việc liên lạc mua bán đá cắt kim loại.
+ Đối với 01 xe ô tô tải và 01 giấy kiểm định, biển số 50H-08005, qua xác minh thuộc sở hữu của Công ty TNHH Đ1, bị cáo L tự lấy làm phương tiện phạm tội, Công ty TNHH Đ1 và TM Tùng L không liên quan đến việc phạm tội của L nên đề nghị trả lại cho Công ty TNHH Đ1 và TM T.
- Về phần dân sự: Ông Nguyễn Duy Đ – Giám đốc Công ty TNHH MTV S1 đã có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
*Người bào chữa cho bị cáo Bùi Bảo L là Luật sư Nguyễn Thế C trình bày:
Đồng ý về tội danh và điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo Bùi Bảo L theo đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi lượng hình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, bị cáo “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo L có công với cách mạng, bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu gì về dân sự; bị cáo xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về kinh tế và hiện bị cáo L đang có thu nhập ổn định.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 50 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức phạt tiền thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo Bùi Bảo L, Đào Thị N1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 ngày 08/9/2022, tại xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Bảo L và Đào Thị N1 có hành vi mua bán 105 thùng đá cắt sắt trị giá 233.500.000 (Hai trăm ba mươi ba triệu năm trăm ngàn) đồng mang nhãn hiệu “THEOID TIGER” và “THEQLD TIGER” là nhãn hiệu được Công Ty TNHH MTV S1 đăng ký bảo hộ tại Việt Nam.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Bảo L, Đào Thị N1 đã phạm vào tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” được quy định tại khoản 1 Điều 226 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử các bị cáo theo các điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, lợi ích của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, các cơ sở sản xuất. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ. Cả hai bị cáo đều có vai trò tích cực ngang nhau.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng” nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo là phù hợp.
Ngoài ra, bị hại đã làm đơn xin bãi nại cho các bị cáo và không có yêu cầu gì thêm về dân sự; bị cáo L gia đình có công với cách mạng; bị cáo N1 tích cực hoạt động thiện nguyện (được UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; UBND xã D, tỉnh Thái Nguyên; UBND phường Q, tỉnh Thái Nguyên trao tặng Giấy khen Ghi nhận Tấm Lòng Vàng ủng hộ bà con thiệt hại do bão, lũ lụt gây ra), nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định trại khoản 2 Điều 51 BLHS cho các bị cáo L, N1 là phù hợp.
Xét các bị cáo Bùi Bảo L, Đào Thị N1 phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo có nhân thân tốt, có lý lịch rõ ràng, các bị cáo xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và hiện bị cáo L, N1 đang có thu nhập ổn định nên căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 đối với các bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 105 thùng đá cắt kim loại, gồm:
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 35 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEQLD TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 15 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 125x1,2x22 mm, số lượng 05 thùng, mỗi thùng có 12 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 50 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 355x3,0x25,4 mm, số lượng 50 thùng, mỗi thùng có 30 cái đá cắt.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, L dùng vào việc liên lạc mua bán đá cắt kim loại.
- Trả lại cho Công ty TNHH Đ1 01 xe ô tô tải và 01 giấy kiểm định, biển số 50H-08005, qua xác minh thuộc sở hữu của Công ty TNHH Đ1, bị cáo L tự lấy làm phương tiện phạm tội, Công ty TNHH Đ1 không biết và không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo L.
Về dân sự: Ông Nguyễn Duy Đ – Giám đốc Công Ty TNHH MTV S1 đã có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Trần Huy H1 là người chở thuê số hàng hóa trên nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với người bán số đá cắt sắt cho bị cáo N1 do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đề nghị xử lý sau.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo L: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Bảo L số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
2/ Căn cứ khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Thị N1 số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
3/ Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 105 thùng đá cắt kim loại, gồm:
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 35 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEQLD TIGER, kích thước 105x1,2x16 mm, số lượng 15 thùng, mỗi thùng có 8 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 10 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 125x1,2x22 mm, số lượng 05 thùng, mỗi thùng có 12 hộp nhỏ, mỗi hộp nhỏ có 50 cái đá cắt.
+ Loại đá cắt kim loại bên ngoài thùng có dòng chữ THEOID TIGER, kích thước 355x3,0x25,4 mm, số lượng 50 thùng, mỗi thùng có 30 cái đá cắt.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, L dùng vào việc liên lạc mua bán đá cắt kim loại.
- Trả lại cho công ty TNHH Đ1 01 xe ô tô tải và 01 giấy kiểm định, biển số 50H-08005.
(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 80/QĐ-VKS-HS ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/03/2024).
5/ Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí: Buộc các bị cáo Bùi Bảo L, Đào Thị N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND khu vực 8-TP.HCM; - PV06-CA TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Phòng THADS khu vực 8-TPHCM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Linh |