vanban.org

Bản án 129/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Bùi Quốc H 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Quốc H 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/HS-ST
Ngày: 29 - 4 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lâm Thị Nga.

2/ Ông Nguyễn Đức Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đô – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 321/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Quốc H; giới tính: Nam; sinh ngày: 11/6/1993; sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD số: 07909300XXXX; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Phường 3, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Bùi Văn Th, con bà Trần Lệ Kh.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

- Ngày 15/7/2019 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 214/QĐ-TA. Ngày 20/11/2020 chấp hành xong.

- Ngày 10/3/2021 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 143/QĐ-TA. Ngày 22/11/2022 chấp hành xong.

Nhân thân:

- Ngày 23/10/2013 bị Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 793/QĐ-UBND. Ngày 28/10/2015 chấp hành xong.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2016/HSST ngày 20/7/2016 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã nộp án phí hình sư sơ thẩm, dân sự sơ thẩm ngày 23/8/2017.

- Ngày 09/3/2017 Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HSST và tổng hợp 01 năm 06 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 226/2016/HSST ngày 20/7/2016 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2019. Đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm và thu lợi bất chính ngày 12/3/2017 và 31/7/2017.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HSST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/5/2024. Đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm thông qua Trại giam Đắk Trung chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa ngày 16/12/2023.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 30/8/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

1/ Anh Phạm Ngọc Th, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu phố 2, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Bà Cao Thị Kim H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 46, Khu phố 6, Phường 9, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/01/2023, Nguyễn Hoàng Trọng L chở Bùi Quốc H đi uống cà phê. Do không có tiền tiêu xài nên L rủ H đi tìm người có điện thoại di động để giật, bán lấy tiền tiêu xài thì H đồng ý và cả hai đã thực hiện 02 vụ “Cướp giật tài sản” như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ ngày 14/01/2023, Nguyễn Hoàng Trọng L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA LUVIAS biển số 59G1-290.41 chở Bùi Quốc H đi đến trước địa chỉ số 70/42 đường ĐHT11, Tổ 17, Khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, L và H phát hiện ông Phạm Ngọc Th đang ngồi trên xe mô tô biển số 59G2-471.22, trên tay phải đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70 nên L điều khiển xe áp sát bên tay phải ngược chiều với xe mô tô của ông Th, H ngồi phía sau dùng tay phải giật điện thoại di động của ông Th rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày 14/01/2023, khi đến trước địa chỉ số 199 đường TMT13, Tổ 44, Khu phố 4, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, L và H phát hiện bà Cao Thị Kim H1 đang ngồi trên xe mô tô biển số 59V2-679.73 dựng trên lề đường, trên tay bà H1 đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 nên L điều khiển xe áp sát bên trái cùng chiều với xe mô tô của bà H1, H ngồi phía sau xe dùng tay phải giật điện thoại di động rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát. Lúc này, bà H1 truy hô “Cướp...cướp” rồi cùng người dân truy đuổi đến trước địa chỉ số 270 đường Tô Ký, Khu phố 5, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 thì xe mô tô của L va chạm giao thông với xe mô tô của người đi đường làm L và H ngã xuống đường, L bị người dân bắt giữ. Riêng H cầm điện thoại di động cướp giật được của ông Th và của bà H1 bỏ chạy tẩu thoát và làm rơi lại 01 ốp lưng nhựa điện thoại di động của bà H1.

Đối với Nguyễn Hoàng Trọng L, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 khởi tố và ngày 04/01/2024 Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt L 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, đã giải quyết vật chứng vụ án và bồi thường dân sự theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Riêng Bùi Quốc H đến ngày 26/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã truy tìm được và triệu tập đến làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Bùi Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 12 kết luận: Không đủ cơ sở định giá qua tài liệu đối với 02 điện thoại di động trong vụ án.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Tại Cáo trạng số: 83/CT-VKSQ12 ngày 13/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Bùi Quốc H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Hoàng Trọng L đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 khởi tố và ngày 04/01/2024 Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt L 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, đã giải quyết vật chứng vụ án và bồi thường dân sự theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12 nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 58, 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Quốc H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, tại phiên tòa lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Vào khoảng 20 giờ ngày 14/01/2023, Nguyễn Hoàng Trọng L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA LUVIAS biển số 59G1-290.41 chở Bùi Quốc H đi đến trước địa chỉ số 70/42 đường ĐHT11, Tổ 17, Khu phố 3, phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, L và H phát hiện ông Phạm Ngọc Th đang ngồi trên xe mô tô biển số 59G2-471.22, trên tay phải đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70 nên L điều khiển xe áp sát bên tay phải ngược chiều với xe mô tô của ông Th, H ngồi phía sau dùng tay phải giật điện thoại di động của ông Th rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát.

Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày 14/01/2023, khi đến trước địa chỉ số 199 đường TMT13, Tổ 44, Khu phố 4, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, L và H phát hiện bà Cao Thị Kim H1 đang ngồi trên xe mô tô biển số 59V2-679.73 dựng trên lề đường, trên tay bà H1 đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 nên L điều khiển xe áp sát bên trái cùng chiều với xe mô tô của bà H1, H ngồi phía sau xe dùng tay phải giật điện thoại di động rồi cả hai nhanh chóng tẩu thoát.

Như vậy, bị cáo H đã có hành vi dùng xe mô tô nhanh chóng giật lấy tài sản của bị hại rồi tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Hoàng Trọng L đã bị Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên không đề cập giải quyết.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là có đồng phạm nhưng chỉ mang tính giản đơn, nhất thời, không có tổ chức.

Xét thấy, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12 nên không xem xét giải quyết.

Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 58, 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Quốc H 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ