vanban.org

Bản án 129/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Việt H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Việt H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 11 năm 2024. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Việt H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Việt H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/HS-ST
Ngày 28-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huê

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Trường

2. Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị H– Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2025/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2025, theo Quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử số 134/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Việt H1, sinh năm 1976 tại tỉnh Thanh Hóa.

Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở trước khi bị bắt: Xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Trương Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị Mỹ L và 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 10-11-2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố V, Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

+ Anh Nguyễn Kim T1, sinh năm 2006; địa chỉ: 1 B, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Liêu Kim P, sinh năm 1990; địa chỉ: I C, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Liêu Kim P, sinh năm 1990; địa chỉ: I C, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1986; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Việt H1 không có việc làm ổn định, sống lang thang. Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 7 năm 2024, Hồng điều khiển xe đạp điện đi ngang qua nhà địa chỉ số A B, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, H1 thấy cửa sổ phòng ngủ bên hông nhà không đóng nên dừng lại quan sát, H1 quan sát bên trong nhà có anh Nguyễn Kim T1 đang ngủ, kế bên anh T1 có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu đen xám đang cắm sạc pin và 01 túi xách đeo chéo. Thấy vậy, H1 dùng cây phơi đồ (có thể kéo dài hoặc rút gọn) đem theo để câu lấy điện thoại và túi xách. Lấy được tài sản, H1 kiểm tra trong túi xách thì thấy bên trong có 01 dây chuyền vàng, 01 nhẫn vàng và 01 lắc vàng cùng 1.500.000 đồng tiền mặt, H1 lấy hết tài sản rồi bỏ túi xách lại ngay cửa sổ phòng ngủ. Tiếp tục, H1 đi đến cửa sổ phòng khách, mở cửa sổ (cửa không khóa ) và quan sát, thấy 01 túi xách để trên ghế S, H1 lấy cây phơi đồ câu lấy được túi xách này rồi kiểm tra bên trong có 2.000.000 đồng tiền mặt, H1 lấy tiền, vứt túi xách lên kệ bếp kế bên cửa sổ rồi tẩu thoát. Sau khi lấy được tài sản, H1 đã lên thành phố Hồ Chí Minh bán cho những người chuyên mua đồ rong ngoài đường (không rõ thông tin lai lịch) lấy tiền mua 01 điện thoại Iphone 13 Pro màu xanh, số tiền còn lại thì tiêu sài cá nhân hết.

Đến ngày 10 tháng 11 năm 2024 thì H1 bị bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Việt H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 111/KL-HĐĐG-TTHS ngày 21-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố V đối với các tài sản gồm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu đen xám, 01 dây chuyền vàng, 01 nhẫn vàng, 01 lắc vàng, có kết quả định giá là: 250.189.200 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng gồm:

+ 02 đĩa CD ghi âm hình hình quá trình lấy lời khai của Cơ quan Cảnh sát điều tra đối với Bùi Việt H1 hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án.

+ 01 điện thoại Iphone 13 Promax, số imei: 358298164022178 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Việt H1 đã khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Kim T1 và chị Nguyễn Liên Kim P1, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 99/CT-VKSVT ngày 21 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Bùi Việt H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Bùi Việt H1 về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Việt H1 mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Việt H1 đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Kim T1 và chị Nguyễn Liên Kim P1, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên không đề xuất xem xét.

Về xử lý vật chứng:

+ 02 đĩa CD ghi âm hình hình quá trình lấy lời khai của Cơ quan Cảnh sát điều tra đối với Bùi Việt H1 đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.

+ 01 điện thoại Iphone 13 Promax, số imei: 358298164022178 là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Kim T1, Nguyễn Liêu Kim P vắng mặt. Xét anh T1, chị P đã có lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa, việc vắng mặt của anh T1, chị P không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1, chị P theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo, bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại nhà địa chỉ số A B, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bùi Việt H1 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu đen xám, 01 dây chuyền vàng, 01 nhẫn vàng, 01 lắc vàng, 1.500.000 đồng tiền mặt của anh Nguyễn Kim T1 gồm và số tiền 2.000.000 đồng của chị Nguyễn Liêu Kim P.

Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố V thì các tài sản bị cáo H1 trộm cắp có giá trị như sau:

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xám đen có giá trị là 13.500.000 đồng.

+ 01 sợi dây chuyền vàng, loại vàng 18K có trọng lượng 2,3 cây có giá trị 123.723.900 đồng.

+ 01 nhẫn vàng, loại vàng 18K có trọng lượng 01 cây có giá trị 53.793.000 đồng.

+ 01 lắc vàng, loại vàng 18K có trọng lượng 1,1 cây có giá trị là 59.172.300 đồng.

Tổng trị giá tài sản và tiền mặt, bị cáo H1 chiếm đoạt của bị hại là 253.689.200 đồng.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo Bùi Việt H1 tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất an cho cộng đồng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, tuyên mức hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục riêng bị cáo, đồng thời đảm bảo răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không đề nghị xem xét gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng vụ án:

+ 02 đĩa CD ghi âm hình hình quá trình lấy lời khai của Cơ quan cảnh sát điều tra đối với Bùi Việt H1 lưu theo hồ sơ vụ án.

+ 01 điện thoại Iphone 13 Promax, số imei: 358298164022178: Bị cáo đã dùng tiền bán tài sản phạm tội mà có để mua chiếc điện thoại này. Xét chiếc điện thoại là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. [7] Về án phí:

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Việt H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Việt H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 11 năm 2024.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ 02 đĩa CD ghi âm hình hình quá trình lấy lời khai của Cơ quan cảnh sát điều tra đối với Bùi Việt H1 lưu theo hồ sơ vụ án.

+ Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone 13 Promax, số imei: 358298164022178.

Vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 155/BB-CCTHADS ngày 03 tháng 4 năm 2025.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Việt H1 phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ