vanban.org

Bản án 129/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trang Minh K ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và ph m tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo Lê Vũ L ph m tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.

Về hình ph t: 1. Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 174; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Trang Minh K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang Minh K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trang Minh K ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và ph m tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo Lê Vũ L ph m tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2024/HS-ST
Ngày: 08-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Huỳnh Thị Thuỳ Dương;

Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị C m Thơ - Thư ký T a án nhân dân thành phố Thủ D u Một.

- ại diện iện ki m sát nhân dân thành ph Thủ ầu Một tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 01 và 08 tháng 7 năm 2024, t i tr s T a án nhân dân thành phố Thủ D u Một, tỉnh Bình Dương, T a án nhân dân thành phố Thủ D u Một xét xử sơ th m công khai v án hình sự sơ th m th lý số 105/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 121/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trang Minh K, sinh năm 1999, t i thành phố C n Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố C n Thơ; chỗ : Số A, đường T, xã B, huyện C, Thành phố H; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang Thanh T (đã chết) và bà Tr n Thị Kim D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/9/2020, bị T a án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 01 năm 06 tháng tù về tội Cưỡng đo t tài sản, theo Bản án hình sự sơ th m số 245/2020/HS-ST. Bị cáo bị t m giữ ngày 13/11/2023, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Lê Vũ L, sinh năm 2003, t i thành phố C n Thơ; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố C n Thơ; chỗ : Số E, đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh T1 và bà Võ Thanh N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 28/11/2023 đến ngày 07/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại:

+ Chị Nguyễn Phương Thảo V, sinh năm 2003; cư trú t i: Số B, đường L, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Chị Lý Hồng Q, sinh năm 1999; cư trú t i: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1999; cư trú t i: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

+ Anh Tr n Nam T2, sinh năm 1992; cư trú t i: Số C, đường N, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, vắng mặt.

+ Bà Tr n Thị Kim D, sinh năm 1979; cư trú t i: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố C n Thơ, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 2004; anh Tr n Trung T3, sinh năm 2001; anh Trương Hiếu N1, sinh năm 1999 và anh Hồ Hoàng Quốc P, sinh năm 2001; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá trình xét hỏi t i phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Trang Minh K là đối tượng đã từng bị kết án về tội Cưỡng đo t tài sản, hiện không có nghề nghiệp cũng như không có thu nhập ổn định. Khoảng tháng 10/2023, do c n tiền để tiêu xài nên K nảy sinh ý định đăng nhập lên các trang m ng xã hội Zalo, F, T4 để t o lập một số tài khoản với những tên gọi khác nhau rồi làm quen với một số người nữ trên m ng xã hội và sau đó K sẽ hẹn đi chơi, ăn uống, vào nhà nghỉ để tâm sự, nếu thấy người nào có tài sản có giá trị thì K sẽ tìm cách chiếm đo t đem bán lấy tiền. Vào các ngày 05/11/2023 và 07/11/2023, K đã thực hiện 02 v Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đo t tài sản và trên địa bàn phường C, thành phố T; c n Lê Vũ L, tuy biết tài sản do K chiếm đo t mà có nhưng vẫn đồng ý chứa chấp và cùng K mang đi tiêu th , c thể như sau:

1. V thứ nhất: Trộm cắp tài sản:

Khoảng đ u tháng 11/2023, K sử d ng tài khoản Zalo tên “H” nhắn tin làm quen, tâm sự với chị Nguyễn Phương Thảo V sinh năm 2003, thường trú t i Số B, đường L, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến ngày 05/11/2023, K hẹn chị V đến Khách s n H1, địa chỉ t i Số A, đường H, Khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tâm sự; chị V đồng ý. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, chị V đón xe taxi đi đến Khách s n H1 và gặp K t i đây. Sau đó, cả hai đi vào khách s n rồi đến gặp nhân viên lễ tân là anh Tr n Trung T3, sinh năm 2001, cư trú t i Khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được anh T3 sắp xếp vào ph ng số 608. Khi chị V lấy chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 13, lo i 256Gb, màu hồng ra để sử d ng thì K nhìn thấy chiếc điện có giá trị nên nảy sinh ý định chiếm đo t. Sau khi vào ph ng số 608 được khoảng 30 phút thì K và chị V quan hệ tình d c với nhau; sau khi quan hệ xong, K hỏi mượn điện tho i của chị V chơi game nhưng chị V không cho và để điện tho i trên giường rồi đi vào ph ng vệ sinh để tắm. Lúc này, K lén lấy điện tho i của chị V bỏ vào túi qu n rồi m cửa ph ng đi ra khỏi khách s n và đón xe ôm đi về ph ng trọ của K t i địa chỉ Số A, đường T, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 10 giờ ngày 06/11/2023, K đi đến một đo n đường nằm trên địa bàn quận G, Thành phố Hồ Chí Minh rồi bán chiếc điện tho i của chị V cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng và K đã tiêu xài hết số tiền này. Đối với chị V, sau khi bị K chiếm đo t chiếc điện tho i nêu trên thì đến ngày 09/11/2023 chị V đến Công an phường C trình báo v việc. Sau đó, v việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để th lý, giải quyết theo th m quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 354/KLTS-TTHS ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện tho i di động hiệu Iphone 13, lo i 256Gb, màu hồng trị giá 12.000.000 (mười hai triệu) đồng.

Đối với chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 13, lo i 256Gb, màu hồng của chị V, do K khai đã bán l i cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch t i quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Ngày 06/02/2024, mẹ của Trang Minh K là bà Tr n Thị Kim D, sinh năm 1979, thường trú t i ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố C n Thơ đã thay K bồi thường cho chị V số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Chị V không yêu c u giải quyết gì thêm và có Đơn bãi n i, xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo K.

2. V thứ hai: Lừa đảo chiếm đo t tài sản; Chứa chấp và Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có:

Ngày 04/11/2023, thông qua m ng xã hội Zalo, K nhắn tin làm quen với chị Lý Hồng Q, sinh năm 1999, thường trú t i ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 07/11/2023, K nhắn tin rủ chị Q đi ăn uống; chị Q đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, chị Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario 125, màu trắng-hồng-đen, biển số 59Y3-698.57 ch y đến cổng Khu công nghiệp Đ thuộc xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp K đã đứng chờ sẵn t i đây. Khi gặp chị Q, K thấy xe mô tô của chị Q có giá trị nên nảy sinh ý định chiếm đo t. Thực hiện ý định trên, K giả vờ kêu chị Q đưa chìa khoá xe mô tô của chị Q cho K để K điều khiển ch chị Q thì Q tin tư ng nên đã đưa chìa khóa xe cho K. Sau đó, K điều khiển xe ch Q ch y đến địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương để ăn uống. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, K điều khiển xe ch chị Q đến một đo n đường trên địa bàn phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì K rủ chị Q đi tìm nhà nghỉ để tâm sự; chị Q đồng ý. Khi K điều khiển xe lưu thông trên đường L đến đo n qua Khu phố E, phường C thì nhìn thấy nhà nghỉ T5 nên K dừng xe l i và cùng chị Q vào đây để thuê ph ng. Sau khi vào nhà nghỉ, K điều khiển xe của chị Q ch y vào bãi giữ xe để gửi nhưng sau đó không đưa chìa khóa xe l i cho chị Q mà bỏ vào túi qu n của K. Sau đó, K cùng chị Q đi lên qu y thu ngân để đặt ph ng thì được nhân viên lễ tân là anh Trương Hiếu N1, sinh năm 1999, cư trú t i Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương sắp xếp vào ph ng số 205. Sau khi vào trong ph ng, K nhìn thấy chị Q sử d ng điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, lo i 256 Gb, màu tím nên nảy sinh ý định chiếm đo t. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, K và chị Q quan hệ tình d c với nhau; sau khi quan hệ xong, K hỏi chị Q có uống trà sữa không thì chị Q đồng ý. Tiếp đó, K nói với chị Q là điện tho i của K không có ứng d ng đặt trà sữa nên giả vờ hỏi mượn điện tho i của chị Q để đặt trà sữa thì chị Q đưa điện tho i cho K mượn. Sau khi c m điện tho i của chị Q thì K nhắn tin đặt 02 ly trà sữa rồi đưa điện tho i l i cho chị Q. Khoảng 20 phút sau, người giao hàng gọi vào số điện tho i của chị Q thì K kêu chị Q đưa điện tho i cho K để K liên l c với người giao hàng lấy trà sữa; chị Q đồng ý. Sau đó, K c m điện tho i của chị Q và đi xuống trước cổng nhà nghỉ rồi đi đến bãi giữ xe lấy chìa khoá xe có sẵn trong túi qu n rồi kh i động máy điều khiển xe của chị Q ch y về ph ng trọ của K. Đối với chị Q, sau khi không thấy K quay l i thì chị Q đã đi xuống bãi giữ xe của nhà nghỉ để kiểm tra thì phát hiện xe mô tô của chị Q không c n và khi xem l i camera của nhà nghỉ thì chị Q biết được K đã chiếm đo t tài sản của mình. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày 07/11/2023, chị Q đến Công an phường C trình báo v việc. Sau đó, v việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để th lý, giải quyết theo th m quyền.

Đối với Trang Minh K, sau khi chiếm đo t được xe mô tô biển số 59Y3-698.57 và chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax của chị Q thì K ch y về ph ng trọ gặp b n là Lê Vũ L và nói cho L biết là xe mô tô và chiếc điện tho i nêu trên là tài sản do K vừa chiếm đo t được của chị Q rồi rủ L cùng đi bán điện tho i và cất giấu xe; L đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-698.57 ch K đi đến cửa hàng điện tho i Tr n A, địa chỉ t i Số B, đường N, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh rồi K đi vào trong cửa hàng và bán chiếc điện tho i của chị Q cho anh Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1999, cư trú t i thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam được số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Sau khi bán điện tho i xong, L điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-698.57 ch K ch y đến Chung cư S, địa chỉ t i đường C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để cất giấu xe. Khi đến nơi, L đứng phía trước chung cư đợi c n K điều khiển xe mô tô biển số 59Y3-698.57 ch y vào bãi giữ xe để gửi rồi cả hai đặt xe ôm công nghệ quay về ph ng trọ của K. Sau khi về ph ng trọ, K lên m ng xã hội tìm người để bán xe thì liên hệ được với anh Tr n Nam T2, sinh năm 1992, cư trú t i số C, đường N, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Qua nói chuyện, anh T2 hỏi K nguồn gốc xe thì K nói xe này là của K mua trả góp nhưng đang kẹt tiền nên không góp nữa nếu đồng ý mua thì đến khi nào K có đủ tiền sẽ đến trả tiền cho cửa hàng xe máy rồi lấy giấy chứng nhận đăng ký xe bản chính đi làm thủ t c sang tên cho anh T2 thì anh T2 đồng ý mua với giá 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng và nói với K khi nào K làm xong thủ t c sang tên xe thì anh T2 sẽ trả thêm tiền. Sau đó, K và anh T2 hẹn giao dịch mua bán xe t i địa bàn thành phố M, tỉnh Tiền Giang và anh T2 yêu c u K khi đến giao xe thì phải đưa giấy chứng nhận đăng ký xe và căn cước công dân (bản photocopy) của K cho anh T2; K đồng ý.

Khoảng 09 giờ ngày 08/11/2023, K điện tho i cho Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 2004, thường trú t i ấp T, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng rủ Đ cùng đi bán xe mô tô hiệu Honda Vario; Đ đồng ý. Sau đó, K đón xe ôm đi đến chỗ của Đ t i Khu công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi Đ điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) của Đ ch K đến Chung cư S để lấy xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-698.57. Sau đó, Đ gửi xe của Đ t i chung cư rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-698.57 ch K ch y đến khu vực thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, K và Đ đến trước cổng Siêu thị G Phường F, thành phố M rồi gọi điện tho i cho anh T2 nhưng anh T2 bận công việc nên đã nhờ anh Hồ Hoàng Quốc P, sinh năm 2004, thường trú t i Số I, đường L, Phường E, thành phố M đến gặp K để giao dịch mua bán xe. Sau đó, anh P nhờ người b n tên N2 (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng đi đến để gặp K và Đ. Khi đến nơi, anh P kiểm tra xe và yêu c u K đưa giấy chứng nhận đăng ký xe, căn cước công dân (bản photocopy) như đã thỏa thuận trước đó với anh T2 nhưng K nói là quên mang theo thì anh P gọi điện tho i nói l i sự việc cho anh T2 thì anh T2 nói chỉ trả trước cho K 8.000.000 (tám triệu) đồng, khi nào K giao giấy tờ nêu trên thì sẽ trả hết số tiền c n l i; K đồng ý. Sau đó, anh T2 đã chuyển số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng vào tài khoản số 3149964100 của L m t i Ngân hàng B (do K không có tài khoản ngân hàng). Sau khi xác nhận việc chuyển tiền thì K đã giao xe cho anh P rồi cùng Đ đón xe khách đi về Chung cư S để lấy xe của Đ. Trên đường về, K chia cho Đ số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng. Sau khi lấy xe xong, Đ ch K về nhà của Đ, c n K đón xe ôm đi về ph ng trọ của K. Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 12/11/2023, L đã rút hết số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng đưa cho K và K đã tiêu xài hết số tiền này. Khi nhận chuyển khoản số tiền trên thì L không biết số tiền trên do K bán xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-698.57 mà có.

Ngày 13/11/2023, chị Q phát hiện K đang khu vực phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên đưa K đến tr s Công an phường B để làm việc. T i Cơ quan Công an, K xin đ u thú và khai nhận toàn bộ các hành vi ph m tội như đã nêu trên. Công an phường B tiến hành lập hồ sơ ban đ u rồi chuyển hồ sơ v việc và đối tượng K cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để th lý giải quyết theo th m quyền.

Đối với Lê Vũ L, đến ngày 28/11/2023, L nhận thấy hành vi của mình tuy biết rõ xe mô tô hiệu Honda Vario 125, màu trắng-hồng-đen, biển số 59Y3-698.57 và chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, 256Gb, màu tím là tài sản do K chiếm đo t của chị Q mà có nhưng vẫn đồng ý cùng K mang điện tho i đi bán và mang xe đi cất giấu là vi ph m pháp luật nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để đ u thú và khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội.

Quá trình điều tra đến ngày 22/11/2023, anh Nguyễn Thanh L1 đã chủ động giao nộp chiếc di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb, màu tím cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để xử lý theo quy định pháp luật.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng-hồng-đen, biển số 59Y3-698.57 trị giá 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb, màu tím trị giá 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng. Tổng trị giá tài sản Trang Minh K chiếm đo t của chị Lý Hồng Q là 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng.

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Đối với chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb, màu tím của chị Lý Hồng Q, ngày 28/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã giao trả l i chiếc điện tho i trên cho chị Q theo Quyết định xử lý vật chứng số 88/QĐ ngày 28/11/2023.

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng-hồng-đen, biển số 59Y3-698.57, quá trình điều tra anh Tr n Nam T2 khai sau khi mua được xe mô tô trên từ Trang Minh K thì anh T2 đã sử d ng làm phương tiện đi l i, đến khoảng tháng 12/2023 thì anh T2 đã bán l i xe trên cho người nam thanh niên tên K1 (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) t i tỉnh Long An nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Ngày 28/11/2023, bà Tr n Thị Kim D đã thay Trang M khôi bồi thường cho chị Lý Hồng Q số tiền 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng. Chị Q không yêu c u giải quyết gì thêm và có Đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho K.

- Đối với anh Nguyễn Thanh L1 đã có hành vi mua chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb từ Trang M. Tuy nhiên, khi mua chiếc điện tho i trên, anh L1 không biết là do K chiếm đo t mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh L1 về tội Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có. Ngày 22/11/2023, bà Tr n Thị Kim D đã thay Trang M khôi trả l i cho anh L1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, anh L1 không yêu c u giải quyết gì thêm.

- Đối với anh Tr n Nam T2 đã có hành vi mua xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng-hồng-đen, biển số 59Y3-698.57 từ Trang Minh K. Tuy nhiên, khi mua xe trên anh T2 không biết là do K chiếm đo t mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh T2 về tội Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có. Anh T2 không có yêu c u bồi thường gì đối với K.

- Đối với Nguyễn Thanh Đ, quá trình điều tra Trang Minh K khai khi K gọi điện tho i cho Đ rủ cùng đi bán xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-698.57 thì K có nói cho Đ biết là xe do K chiếm đo t mà có; tuy nhiên, Đ chỉ thừa nhận vào ngày 08/11/2023 thì Đ có cùng K đi bán xe mô tô của chị Q t i thành phố M, tỉnh Tiền Giang nhưng Đ không biết xe trên là do K chiếm đo t của chị Q mà có; đồng thời, Đ cũng không thừa nhận đã nhận số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng từ K. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất và các ho t động điều tra khác nhưng đến nay vẫn chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ về tội Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp t c xác minh làm rõ và xử lý khi có đủ căn cứ.

Cáo tr ng số 111/CT-VKSTDM ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một truy tố bị cáo Trang Minh K về các tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” quy định t i điểm c khoản 2 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuy tố bị cáo Lê Vũ L về tội “Chứa chấp và Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có” quy định t i khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong ph n tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trang Minh K ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và ph m tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo Lê Vũ L ph m tội “Chứa chấp và Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.

Về hình phạt:

+ Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 174; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Trang Minh K mức hình ph t từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”; từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội mức hình ph t từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.

+ Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Lê Vũ L mức hình ph t từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác ph m tội mà có” và 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”. Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội mức hình ph t từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và iện pháp tư pháp: Không đề nghị xem xét giải quyết.

- T i ph n tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đ i diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình ph t và mức hình ph t đã đề nghị. Trong nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thấy hành vi sai trái của mình nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh t ng t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một, Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, không ai có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, quyết định, hành vi tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố t ng: T i phiên toà, vắng mặt các bị h i chị Nguyễn Phương Thảo V, chị Lý Hồng Q; vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án anh Nguyễn Thanh L1, anh Tr n Nam T2 và những người làm chứng. Nhưng, chị V, chị Q, anh L1, anh T2 và những người làm chứng đã có lời khai trình bày ý kiến của mình trong hồ sơ v án nên việc vắng mặt chị V, chị Q, anh L1, anh T2 và người làm chứng không làm ảnh hư ng đến việc giải quyết v án. Do đó, căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp t c xét xử v án vắng mặt chị V, chị Q, anh L1, anh T2 và những người làm chứng.

T i phiên t a, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội. Lời khai của các bị cáo t i phiên t a phù hợp với lời khai của các bị cáo t i cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của các bị h i, những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án, Kết luận Giám định, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Vào ngày 05 tháng 11 năm 2023 t i Khách s n H1, địa chỉ t i Số A, đường H, Khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trương Minh K2 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đo t 01 điện tho i di động hiệu Iphone 13, lo i 256Gb, màu hồng trị giá 12.000.000 (mười hai triệu) đồng của bị h i Nguyễn Phương Thảo V. Đến ngày 07/11/2023, t i nhà nghỉ T5, địa chỉ t i Khu phố E, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo K2 đã tiếp t c thực hiện hành vi đưa ra thông tin gian dối với bị h i Lý Hồng Q để chị Q tin tư ng rồi sau đó chiếm đo t của chị Q 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, màu trắng-hồng-đen, biển số 59Y3-698.57 trị giá 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng và 01 điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb, màu tím trị giá 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng; tổng trị giá các tài sản bị cáo K2 chiếm đo t của bị h i Q là 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng. Như vậy, hành vi mà bị cáo Trang Minh K đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” được quy định t i khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); bị cáo K đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; do vậy, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một truy tố đối với bị cáo Trang Minh K theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đối với bị cáo Lê Vũ L tuy biết xe mô tô biển số 59Y3-698.57 và chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb, màu tím do bị cáo K chiếm đo t mà có nhưng vẫn đồng ý cùng bị cáo K mang chiếc điện tho i đi bán t i cửa hàng điện tho i Tr n A, địa chỉ t i Số B, đường N, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và cùng bị cáo K mang xe đi cất giấu t i Chung cư S, địa chỉ t i đường C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, hành vi mà bị cáo L cùng với bị cáo K đi bán chiếc điện tho i di động hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256Gb, màu tím đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có” được quy định t i khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); bị cáo L đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; do vậy, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một truy tố đối với bị cáo Lê Vũ L theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Riêng, hành vi của bị cáo L cùng với cùng bị cáo K mang chiếc xe mô tô biển số 59Y3-698.57 đi cất giấu t i Chung cư S, tuy Cáo tr ng số 111/CT-VKSTDM-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ D u Một đã truy tố bị cáo về tội “Chứa chấp tài sản do người khác ph m tội mà có”, nhưng căn cứ vào các tài liệu có t i hồ sơ v án thể hiện: Bị cáo K là người trực tiếp gửi xe t i Chung cư S, Chung cư S cũng không thuộc quyền quản lý của bị cáo L nên hành vi của bị cáo L không được coi cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản, cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản là chiếc xe mô tô biển số 59Y3-698.57; bị cáo L cùng với bị cáo K gửi chiếc xe mô tô biển số 59Y3-698.57 vào Chung cư S, đến ngày hôm sau thì bị cáo K cùng với Nguyễn Thanh Đ mang chiếc xe này xuống thành phố M, tỉnh Tiền Giang để bán cho người khác, số tiền bán xe được chuyển khoản vào tài sản của bị cáo L. Do đó, hành vi này của bị cáo L được cấu thành tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”. Do tội danh mà Hội đồng xét xử xác định và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đều cùng một điểm, khoản, điều luật nên không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định t i Điều 280, 298 của Bộ luật Tố t ng hình sự.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm ph m đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an t i địa phương nơi xảy ra v án. Về nhận thức, bị cáo Trang Minh K biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật nhưng vì tham lam, lười lao động nhưng l i muốn có tiền để tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp sự trừng ph t của pháp luật, thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo Lê Vũ L biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo L là một trong những nguyên nhân, điều kiện để bị cáo K thêm quyết tâm, ý chí để ph m tội. Do đó, c n có mức hình ph t nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện; c n cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng răn đe, giáo d c bị cáo tr thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với bị cáo Trang Minh K: Sau khi thực hiện hành vi ph m tội, bị cáo đã ra đ u thú; trong quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình; đã bồi thường toàn bộ thiệt h i cho các bị h i, được các bị h i có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo nên đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Đối với bị cáo Lê Vũ L: Sau khi thực hiện hành vi ph m tội, bị cáo đã ra đ u thú; trong quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình nên đây là các tình tiết được quy định t i điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; căn cứ vào nhân thân của các bị cáo, xét mức hình ph t mà Đ i diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trang Minh K đã tác động mẹ của mình là Bà Tr n Thị Kim D bồi thường toàn bộ thiệt h i cho các bị h i và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án; các bị h i và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án không có yêu c u gì khác nên không đề cập xử lý.

Về biện pháp tư pháp: Không.

Án phí sơ th m: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các 136, 260, 292, 293, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí T a án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trang Minh K ph m tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và ph m tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo Lê Vũ L ph m tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.

2. Về hình ph t:

2.1. Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 174; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Trang Minh K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 13/11/2023.

2.2. Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Lê Vũ L 01 (một) năm tù; thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Không.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trang Minh K và Lê Vũ L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ th m.

5. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án bà Tr n Thị Kim D được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị h i và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt t i Toà án, được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ