vanban.org

Bản án 129/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 17/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Anh K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án hình sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Kiệt "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2024/HS-PT
Ngày: 17/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường, bà Vũ Thị Thanh Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Mai Hân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 12/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Anh K, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: NGUYỄN ANH K - Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 11 tháng 02 năm 2007 tại Bình Thuận; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tiền án, tiền sự: không. Con ông: Nguyễn Văn K1, sinh năm 1973 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1974. Vợ, con: không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Anh K: Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974. Cùng địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt bà N).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh K: Bà Nguyễn Hồ Hải V – Luật sư cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Võ Tuấn K2 (sinh ngày 04/01/2009, trú thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) và Huỳnh Thiên B (sinh năm 2005, trú cùng thôn) về việc B chạy xe máy nẹt pô khiêu khích nên cả hai đã nhắn tin qua mạng xã hội thách thức đánh nhau. Ngày 08/11/2023, K2 nhờ Nguyễn Văn T giúp mình gọi người đánh Huỳnh Thiên B thì T đồng ý. Chiều ngày 08/11/2023, Nguyễn Văn T gọi điện cho Đỗ Văn S nói “đang đụng chuyện ở Km 16 nên hẹn S khoảng 19 giờ cùng ngày xuống đầu đường K, xã H giúp T đánh nhau” thì S đồng ý. Lúc này, S đang ở nhà Nguyễn Gia B1, sinh ngày 20/4/2008 (thuộc thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) cùng với 05 người khác gồm: Đỗ Văn Đ, sinh ngày 23/02/2008 (tạm trú: Khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận), Nguyễn Anh K, Nguyễn Văn L, Lê Bá V1 và Trần Ngọc P, nên S nói với B1, P, V1, L, Đ và K là “Anh T nhờ giúp đi đánh nhau, anh em có đồng ý không” thì tất cả đều đồng ý.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đỗ Văn S, Nguyễn Gia B1, Nguyễn Anh K, Nguyễn Văn L, Đỗ Văn Đ, Lê Bá V1 và Trần Ngọc P tập trung tại phòng trọ của Đỗ Văn S và Lê Bá V1 ở nhà trọ T6 thuộc K, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận để chuẩn bị hung khí giúp T đi đánh nhau. Tại đây, Đỗ Văn S tiếp tục điện thoại rủ Nguyễn Thành L1 đi đánh nhau thì L1 đồng ý và L1 còn rủ thêm Vũ Quốc C (thường gọi Bi Em, sinh ngày 01/12/2007, trú thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) cùng đi đánh nhau. Sau đó, Nguyễn Thành L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B4-624.61 chở Vũ Quốc C đi đến nhà trọ Thùy L2 tập hợp với nhóm của Đỗ Văn S (07 người). Tại đây, Đỗ Văn S lấy 02 cây đao tự chế, mỗi cây dài khoảng 01m (cán đao được quấn băng keo màu đen) được S cất giấu tại phòng trọ bỏ vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 86B4 - 471.99 của S, rồi S đưa 01 cây kiếm tự chế dài 82cm, cán bằng gỗ màu đen dài 24cm (trên cán có các vòng kim loại màu vàng), lưỡi kiếm bằng kim loại dài 58cm, bản rộng 03cm cho Trần Ngọc P giữ; còn Nguyễn Thành L1 mang theo 01 cây đao tự chế dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ dài khoảng 30cm (có quấn băng keo màu đen bên ngoài), lưỡi đao bằng kim loại đã bị rỉ sét dài khoảng 20cm, bản lưỡi đao rộng khoảng 04cm. Sau khi đã chuẩn bị xong hung khí, cả nhóm (09 người) đi trên 03 xe mô tô đến xã H, trong đó Nguyễn Thành L1 điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển kiểm soát 86B4

- 624.61 (xe do L1 trực tiếp quản lý) chở Vũ Quốc C và Nguyễn Văn L; Nguyễn Anh K điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển kiểm soát 72G1 - 102.39 (xe do Nguyễn Gia B1 quản lý) chở Nguyễn Gia B1 và Trần Ngọc P; còn Lê Bá V1 điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển kiểm soát 86B4 - 471.99 (xe do Đỗ Văn S quản lý) chở Đỗ Văn S và Đỗ Văn Đ đi đến K, xã H, huyện H gặp Nguyễn Văn T. Trên đường đi, Lê Bá V1 chở Đỗ Văn S và Đỗ Văn Đ ghé vào nhà Nguyễn Thành Đ1 (sinh năm 2007, trú khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) và lấy 01 cây đao tự chế dài khoảng 1,5m mà S nhờ Đ1 giữ giùm trước đó để mang theo.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, nhóm của Đỗ Văn S (09 người) đến trước quán C1 ở thôn P, xã H, huyện H và được hai người bên nhóm của Nguyễn Văn T là Hồ Thanh T1 (sinh ngày 27/9/2008, trú thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) và Lê Minh S1 cùng đi trên xe mô tô hiệu Dream, không có biển kiểm soát đón và dẫn đến phía trước nhà ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1998) ở thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận đứng.

Tại trước nhà Nguyễn Văn H lúc này còn có Võ Tuấn K2, Nguyễn Văn T cùng 03 người khác gồm Hồ Thanh T1, Lê Minh S1 và Lê Minh S2 (sinh năm 2004, trú thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), tổng cộng gồm có 14 người. Lúc này, Lê Minh S1 nói với T “Thằng B1 nó đang ở trước tiệm rửa xe của anh Đặng Nam T2 ở đầu đường bê tông” thì Nguyễn Văn T hỏi Đỗ Văn S là “đồ đâu” thì Đỗ Văn S mở cốp xe mô tô biển kiểm soát 86B4 - 471.99lấy 02 cây đao được tháo rời lắp ráp lại thành 02 cây đao tự chế và đưa cho Nguyễn Văn T cầm 01 cây và Đỗ Văn S cầm 01 cây, tiếp đó Đỗ Văn S đưa cho Lê Minh S1 cầm 01 cây đao tự chế dài khoảng 1,5m (là cây đao S1 lấy tại nhà Nguyễn Thành Đ1 trên đường đi), còn Trần Ngọc P cầm 01 cây kiếm tự chế; Nguyễn Văn L cầm 01 đoạn ống bằng kim loại hình trụ tròn, có quấn băng keo màu đen bên ngoài dài khoảng 40cm, đường kính khoảng hơn 02cm, đây là đoạn ống nối dư ra từ cây đao mà Đỗ Văn S đang cầm; còn Vũ Quốc C cầm 01 cây đao tự chế của Nguyễn Thành L1. Lúc này, do không đủ xe nên Nguyễn Gia B1 không đi, còn Đỗ Văn Đ và Lê Minh S2 biết đi đánh nhau, sợ vi phạm pháp luật nên không tham gia.

Sau đó, 11 người gồm: Nguyễn Thành L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B4 - 624.61chở Vũ Quốc C; Nguyễn Anh K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72G1 - 102.39 chở Trần Ngọc P và Nguyễn Văn L; Lê Bá V1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B4 - 471.99 chở Đỗ Văn S và Nguyễn Văn T; Lê Minh S1 điều khiển xe mô tô hiệu Dream không biển kiểm soát chở Hồ Thanh T1 và Võ Tuấn K2 đi từ nhà của Nguyễn Văn H đến tiệm R để tìm Huỳnh Thiên B. Khi cả nhóm đến trước tiệm R1 thôn P, xã H, huyện H thì thấy Huỳnh Thiên B đang ngồi cùng với Nguyễn Dương Anh T3 (sinh ngày 12/10/2006, trú thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), Đặng Nam T2 (sinh năm 2001, trú thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) là chủ tiệm sửa xe và Nguyễn Thanh P1 (sinh năm 1995, trú xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận). Lúc này, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn S, Vũ Quốc C, Lê Minh S1, mỗi người cầm 01 cây đao tự chế, Trần Ngọc P cầm 01 cây kiếm tự chế, Nguyễn Văn L cầm 01 đoạn ống nối cùng với Hồ Thanh T1 và Nguyễn Thành L1 xuống xe và đứng trước T4 rửa xe Nam Thuận, còn Võ Tuấn K2, Nguyễn Anh K và Lê Bá V1 thì ngồi trên xe. Tiếp đó, Nguyễn Văn T đi đến gần vị trí ngồi của Huỳnh Thiên B và hỏi “thằng nào đòi chém anh em tao” thì B đứng dậy nói “mày bảnh thì ra một một” nên nhóm của Nguyễn Văn T và Đỗ Văn S xác định được người này là Huỳnh Thiên B. Lúc này, Nguyễn Thành L1 giật lấy cây dao tự chế trên tay Vũ Quốc C rồi chạy đến chém Huỳnh Thiên B, nhưng B bỏ chạy ra phía sau tiệm rửa xe nên không chém được, sau đó B chạy luồn theo đường bê tông bên hông tiệm rửa xe để lên lại phía trước thì bị Trần Ngọc P chặn lại nên B đổi hướng chạy ngang qua mặt P để sang quán nhậu A M kế bên tiệm sửa xe, khi thấy Huỳnh Thiên B chạy gần đến mình, Trần Ngọc P cầm cây kiếm tự chế bằng tay phải chém một cái theo hướng từ trên xuống trúng vào cẳng tay trái của Huỳnh Thiên B. Sau đó, B tiếp tục bỏ chạy vào Quán nhậu A M thì bị Lê Minh S1 cầm cây đao tự chế dài 1,5m đuổi theo chém 01 cái hướng vào người B nhưng B dùng ghế nhựa màu đỏ đưa lên đỡ nên chỉ chém trúng ghế. Sau đó, Trần Ngọc P, Đỗ Văn S, Lê Minh S1, Võ Tuấn K2, Đỗ Văn Đ, Nguyễn Gia B1, Nguyễn Thành L1, Nguyễn Văn L, Lê Bá V1, Nguyễn Anh K và Nguyễn Văn T lên xe mô tô bỏ chạy. Còn Huỳnh Thiên B được người dân đưa đi cấp cứu tại Cơ sở Y. Trên đường bỏ chạy, Nguyễn Văn L đã vứt bỏ đoạn ống nối mà L cầm, đến nay không thu giữ được; còn các hung khí khác thì nhóm Đỗ Văn S đã cất giấu tại bụi cỏ gần quán C2 ở K thuộc thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, đến sáng hôm sau, Đỗ Văn S đến tìm thì phát hiện bị mất cây đao dài 1,5m còn các hung khí còn lại S mang về nhà cất giấu, sau đó S đưa cho Nguyễn Hồ T5 (sinh năm 2008, trú thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) mượn 01 cây đao tự chế (cây đao mà Đỗ Văn S cầm để đi đánh Huỳnh Thiên B), hiện cây đao này đã bị thu giữ, còn những hung khí còn lại đến nay không thu giữ được. Riêng cây kiếm tự chế mà Trần Ngọc P sử dụng để chém Huỳnh Thiên B, P đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-STngày 28/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã quyết định:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác, buộc các bị cáo bồi thường cho bị hại, quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Ngày 06/9/2024, bị cáo Nguyễn Anh K kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về vệc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, mức án cũng đã thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo nhưng không nêu được tình tiết mới theo quy định của pháp luật, do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo chỉ kháng cáo xin hưởng án treo. Qua thẩm tra lại hồ sơ và lời khai bị cáo tại phiên tòa, có cơ sở để xác định:

Vào tối ngày 08/11/2023, tại tiệm R thuộc thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, các bị cáo Nguyễn Văn T, Đỗ Văn S, Lê Minh S1, Trần Ngọc P, Nguyễn Thành L1, Lê Bá V1 và Nguyễn Anh K đã có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm (đao, kiếm tự chế) để rượt đuổi, và P đã chém Huỳnh Thiên B gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18% (mười tám phần trăm).

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 9 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo bị truy tố, xét xử theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 2 – 6 năm tù. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, độ tuổi và nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 9 tháng tù, là thỏa đáng, không nặng cho bị cáo.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin được hưởng án treo nhưng chỉ trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định của pháp luật. Trong vụ án, bị cáo Nguyễn Anh K tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Bị cáo không quen biết với bị hại, cũng như không có bất cứ mâu thuẫn gì trước đó đối với bị hại, tuy nhiên khi được bị cáo Đỗ Văn S hỏi “Anh T nhờ giúp đi đánh nhau, anh em có đồng ý không” thì bị cáo hưởng ứng, sau đó bị cáo cùng với các bị cáo khác tham gia chuẩn bị hung khí và chở các bị cáo khác tới địa điểm tham gia đánh nhau. Bị cáo thực hiện hành vi xuyên suốt từ khâu chuẩn bị tới khi thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo phạm tội với nhóm đông người, gây mất an ninh trật tự địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ : Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh K. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Anh K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/12/2024).

Cỡ chữ