- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Đòi tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 129/2024/DSST Ngày: 18/7/2024 V/v tranh chấp: “Đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Tân Dân
2. Ông Dương Vương Đạo
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Phú Đông;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 121/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 6 năm 2024, về việc tranh chấp: “Đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST- DS, ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1939
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Lê Minh V, sinh năm: 1974.
Đại diện theo ủy quyền của anh Vĩnh: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
(Bà M và chị T có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Tháng 3 năm 2022, tôi có cho anh V mượn 02 chỉ vàng 24k, loại vàng nhẫn. Khi mượn vàng, anh V nói là để mua gà nuôi. Anh V hẹn đến khi bán gà, có tiền sẽ trả lại 02 chỉ vàng 24k cho tôi. Do tôi là mẹ ruột anh V nên khi cho mượn vàng, không làm giấy tờ gì. Khi tôi đưa vàng cho anh V, chỉ có tôi và anh V nên không có người chứng kiến. Mặt khác, anh V có yêu cầu tôi không nói lại với chị T (vợ anh V) nên chị T cũng không biết việc tôi đưa vàng cho anh V mượn. Khi tôi thấy anh V có tiền và yêu cầu anh V trả 02 chỉ vàng còn nợ thì anh V không trả và nói không mượn của tôi.
Nay tôi yêu cầu anh V trả cho tôi bà 02 chỉ vàng 24k, loại vàng nhẫn, trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, là chị Nguyễn Thị T là đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Lê Minh V, trình bày:
Anh V xác định không có mượn của bà M 02 chỉ vàng 24k như bà M trình bày. Chị là vợ anh V, cũng không nghe bà M nói việc có cho anh V mượn 02 chỉ vàng. Do anh V không mượn 02 vàng của bà M nên anh V không đồng ý trả bà M 02 chỉ vàng 24k như bà M yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật, phạm vi khởi kiện
Bà Nguyễn Thị M khởi kiện, yêu cầu anh Lê Minh V trả lại tài sản (vàng) nên đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân phú Đông theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Về nội dung khởi kiện
Tại phiên tòa, bà M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu anh V trả 02 chỉ vàng 24k loại vàng nhẫn. Đại diện theo ủy quyền của anh V cho rằng anh V không mượn vàng của bà M. Xét thấy, tại phiên tòa bà M xác định việc cho mượn vàng không làm biên nhận nợ, không có người làm chứng. Đại diện theo ủy quyền của anh V trình bày là anh V không đồng ý trả 02 chỉ vàng 24k cho bà M. Do bà M khởi kiện yêu cầu anh V trả 02 chỉ vàng 24k nhưng không có chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
Về án phí
- Yêu cầu của bà Nguyễn Thị M không được chấp nhận nên phải nộp án phí theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, bà M có đơn xin miễn nộp án phí do đã trên 60 tuổi. Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; cho bà M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Lê Minh V không nộp tiền án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều luật áp dụng:
- Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 5 và khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu anh Lê Minh V trả 02 (hai) chỉ vàng 24 kara.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo Bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
- VKSND H. Tân Phú Đông;
- THA DS H. Tân Phú Đông;
- Các đương sự;
- Lưu HS, AV.
Nguyễn Thị Hoàng Nhi
| Nơi nhận: - VKSND H. Tân Phú Đông; - THA DS H. Tân Phú Đông; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ HOÀNG NHI |