- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn Phạm Thị H và bị đơn Trần Thị N, Dương Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H đối với ông Dương Văn H1 và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2024/DS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Hoàng;
2. Bà Nguyễn Xuân Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên;
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 272/2024/TLST-DS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1968 và ông Dương Văn H1, sinh năm 1965; Cùng địa chỉ cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Bà N, ông H1 vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Phạm Thị H trình ày: Bà có tham gia dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/7/2022 âm lịch gồm 22 phần, hụi mãn ngày 25/4/2024 âm lịch do bà N làm chủ thảo hụi. Dây hụi này 01 tháng khui 01 lần, bà tham gia 02 phần với tên gọi “Dì H” thứ tự số 17 trong danh sách hụi viên. Bà đóng hụi sống được 15 kỳ hụi thì ngưng đóng, trung bình giá kêu hụi hàng tháng dao động từ 400.000 đồng/tháng đến 500.000 đồng/tháng. Tháng 11/2023 âm lịch bà N thông báo vỡ hụi và tính toán tiền hụi bà N còn nợ bà là: 15 kỳ x 1.600.000 đồng/kỳ x 02 phần = 48.000.000 đồng.
Sau khi chốt nợ, đến ngày 25/12/2023 âm lịch bà N trả cho bà số tiền 6.000.000 đồng. Bà không nhận số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 23/11/2023 âm lịch như bà N trình bày. Tính đến nay bà N còn nợ tiền hụi của bà là 48.000.000 đồng - 6.000.000 đồng = 42.000.000 đồng.
Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, bà yêu cầu ông H1, bà N trả cho bà số tiền hụi 58.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc ông H1, bà N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi vốn 42.000.000 đồng, không tính lãi hụi. Vì ông H1 có biết việc bà N làm chủ hụi và tham gia phụ giúp bà N làm hụi.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị N trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của bà H về dây hụi dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/7/2022 âm lịch gồm 22 phần, bà H tham gia 02 phần. Bà chốt nợ hụi với bà Hằng số tiền hụi vốn bà còn nợ là 48.000.000 đồng.
Sau khi chốt nợ, ngày 23/11/2023 âm lịch bà trả cho bà Hằng số tiền 10.000.000 đồng; đến ngày 25/12/2023 âm lịch trả số tiền 6.000.000 đồng, khi trả tiền không lập biên bản giao nhận.
Nay bà chỉ đồng ý trả cho bà Hằng số tiền hụi vốn còn nợ lại là 32.000.000 đồng, không có lãi hụi và không đồng ý để ông H1 liên đới trả nợ vì ông H1 không có liên quan đến việc bà làm chủ thảo hụi. Ông H1 đã bị bệnh tim khoảng 10 năm nay, thu nhập của gia đình chủ yếu từ thu nhập làm hụi, ngoài ra không có khoản thu nhập khác.
Tại bản tường trình ngày 26/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, ị đơn ông Dương Văn H1 trình bày: Ông H1 là chồng của bà N chung sống với bà N cách đây khoảng 40 năm. Quá trình chung sống bà N mang nhiều căn bệnh, không đảm bảo sức khoẻ nên có làm chủ hụi, ông đã nhiều lần ngăn cản làm hụi nhưng bà N không nghe. Từ năm 2019 cho đến nay sức khoẻ của ông yếu kém, phải điều trị trong thời gian dài. Ông và bà N cũng đã phải bán 02 phần đất để trả tiền nợ hụi cho các hụi viên. Nay ông xác định không có liên quan đến việc bà N làm hụi nên không đồng ý cùng bà N liên đới trả nợ cho bà H.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát iểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H, buộc bà Trần Thị N và ông Dương Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả tiền nợ hụi là 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng cho bà H. Ghi nhận bà H không tính lãi.
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên Tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của đương sự trong vụ án, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 của Bộ luật Dân sự. Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là Toà án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, bị đơn ông Dương Văn H1, bà Trần Thị N đều vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H1 theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, bà H yêu cầu vợ chồng ông H1, bà N có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi 58.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng ông H1, bà N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi còn lại 42.000.000 đồng, không tính lãi suất.
Về xác định số tiền hụi: Căn cứ vào giấy hụi các đương sự cung cấp và bà H, bà N đều trình bày thống nhất bà H có tham gia chơi dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/7/2022 âm lịch gồm 22 hụi phần do bà N làm chủ thảo hụi. Bà H có tham gia 01 phần, tháng 10/2023 âm lịch bà N thông báo vỡ hụi trong khi đó bà H vẫn chưa được hốt hụi. Theo tính toán bà H đóng hụi vốn cho bà N với số tiền là 48.000.000 đồng.
Sau khi chốt nợ hụi, bà H chỉ thừa nhận số tiền 6.000.000 đồng đã nhận của bà N vào ngày 23/11/2023 âm lịch, bà H không nhận số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 23/11/2023 như bà N trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, bà N không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc đã trả số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 25/12/2023 âm lịch cho bà H. Do vậy Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bà N còn nợ bà Hằng số tiền hụi vốn là 48.000.000 đồng – 6.000.000 đồng = 42.000.000 đồng.
Về nghĩa vụ liên đới trả tiền nợ hụi: Xét thấy bà N và ông H1 chung sống từ khoảng năm 1984-1985 đến nay nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Bà N mở hụi, làm chủ thảo hụi diễn ra trong thời gian dài và trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng ông H1, bà N. Bà N trình bày bà mang nhiều căn bệnh, không có nghề nghiệp chỉ làm chủ hụi hưởng hoa hồng để có thu nhập chăm lo cho gia đình. Ông H1 trình bày từ năm 2019 ông bị bệnh tim phải điều trị trong thời gian dài, ông có biết bà N làm chủ thảo hụi và có ngăn cản bà N nhưng ông không có chứng cứ chứng minh. Do vậy cần buộc ông H1, bà N phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ hụi cho bà H là phù hợp theo quy định tại Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc vợ chồng ông H1, bà N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Hằng số tiền nợ hụi là 42.000.000 đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi hụi.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của bà H2 được chấp nhận nên ông Dương Văn H1, bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là: 42.000.000 đồng x 5% = 2.100.000 đồng.
Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H đối với ông Dương Văn H1 và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Buộc ông Dương Văn H1 và bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị Hằng s tiền nợ hụi là 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Dương Văn H1, bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 2.100.000 (hai triệu, một trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Phạm Thị H không phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho bà Phạm Thị H số tiền tạm ứng án phí khởi kiện bà đã nộp 1.450.000 (một triệu, bốn trăm năm mươi nghìn) đồng tại biên lai thu số 0009330 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh TN; - VKSND H.Châu Thành; - CCTHADS H.Châu Thành; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Thị Liên |