vanban.org

Bản án 129/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T với ông Trần Hải Q. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 151/2010, ngày 13 tháng 10 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hải Q không còn giá trị pháp lý).

Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn R, sinh ngày 14/02/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 03/7/2017. Bà T được trực tiếp nuôi dưỡng tên Trần Văn R, sinh ngày 14/02/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 03/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị T xin ly hôn với Trần Hải Q"
  • Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T với ông Trần Hải Q. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 151/2010, ngày 13 tháng 10 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hải Q không còn giá trị pháp lý).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 129/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 5 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Liêm

2. Ông Lê Văn Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang – kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 109/2023/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 222/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Hải Q, sinh năm 1989; địa chỉ: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hải Q do quen biết tìm hiểu nhau trước, cả hai đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/02/2010 tại Ủy ban nhân xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông Q có người phụ nữ khác ở bên ngoài nên vợ chồng thường hay cự cãi dẫn đến mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Q.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn R, sinh ngày 14/02/2013; Trần Đăng K, sinh ngày 03/7/2017. Hiện các con đang sống chung với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Trần Hải Q đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Q đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Trần Hải Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.

Ý kiến giải quyết vụ án:

-Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh đối v ông Trần Hải Q.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn R, sinh ngày 14/02/2013; Trần Đăng K, sinh ngày 03/7/2017, hiện các con đang sống với bà T; các cháu vẫn phát triển bình thường Q sinh lý, do đó việc bà T xin được nuôi dưỡng các con là phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không có yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn, nuôi con với ông Trần Hải Q nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trần Hải Q với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện C, tỉnh An Giang.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông Trần Hải Q không đến tham gia phiên Tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của ông Q không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Hải Q.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hải Q là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì mâu thuẫn vợ chồng, bà T cho rằng ông Q có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường hay cự cãi, mặc dù bà T cũng đã tạo điều kiện để hàn gắn nhưng vẫn không được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Q. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Q biết về việc bà T xin ly hôn với ông cũng như tạo điều kiện để ông Q, bà T hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Q không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, điều này chứng tỏ ông Q không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên bà T yêu cầu được ly hôn ông Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn R, sinh ngày 06/02/2005 và Trần Đăng K, sinh ngày 08/12/2007. Hiện các con đang sống chung với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Qua yêu cầu xin được nuôi dưỡng con chung của bà T. Hội đồng xét xử nhận thấy các con sống chung với bà T cháu vẫn phát triển khỏe mạnh, ổn định tâm lý nên việc bà T xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với Điều 81 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Bên cạnh việc được nuôi dưỡng con chung thì bà T và các thành viên gia đình bà T phải tạo điều kiện để ông Q được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không có yêu cầu.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không xét đến.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T1 chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị T với ông Trần Hải Q. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 151/2010, ngày 13 tháng 10 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hải Q không còn giá trị pháp lý).

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn R, sinh ngày 14/02/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 03/7/2017.

Bà T được trực tiếp nuôi dưỡng tên Trần Văn R, sinh ngày 14/02/2013 và Trần Đăng K, sinh ngày 03/7/2017.

Bà T và các thành viên gia đình bà T tạo điều kiện để ông Q được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0013279, ngày 20/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà T đã thực hiện xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ