vanban.org

Bản án 129/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 23/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Hiển D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Dương Hiển D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Dương Hiển D về Ủy Ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đ để giám s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Hiển D phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2021/HS-ST
Ngày: 23-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Thảo

2. Ông Nguyễn Tý

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Dương Hiển D, tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 11/4/1992 tại thành phố Đ;

Trú tại: 469 đường K, tổ 69, phường H, quận L, thành phố Đ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Hiển P, sinh năm 1967 (s) và bà Doãn Thị Mỹ C, sinh năm 1972 (s); Vợ, con: chưa có;

Tiền án: Không.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện (người giám hộ) hợp pháp của bị cáo: Bà Doãn Thị Mỹ C, sinh năm 1972 và ông Dương Hiển P, sinh năm 1967; Cùng địa chỉ: 469 đường K, phường H, quận L, thành phố Đ (bà C và ông P là cha mẹ ruột của bị cáo D). Bà C có mặt, ông P vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hồ Thị Hương S - Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Trung Tín thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1992; Địa chỉ: K339/25/15 đường T, phường X, quận T, thành phố Đ (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2002; Địa chỉ: Tổ 18, phường H1, quận C, thành phố Đ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 19/5/2021, Dương Hiển D vào Siêu thị C (địa chỉ: 478 đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đ) chơi rồi ngủ lại trong nhà vệ sinh. Đến 02 giờ ngày 20/5/2021, D thức dậy và đi đến quầy hàng JONO ở tầng 1 Siêu thị do chị Nguyễn Thị Thanh T làm chủ. D phát hiện ngăn kéo tủ tại bàn tính tiền không khóa bên trong có tiền, D liền lấy trộm số tiền 7.750.000đ (bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bỏ vào túi quần rồi vào nhà vệ sinh ngủ tiếp. Đến 06 giờ 30 phút cùng ngày, D lên tầng 02 của Siêu thị trốn. Lúc này, chị Nguyễn Thị Thu H là nhân viên của quầy hàng JONO đến làm việc phát hiện bị mất số tiền trên nên trình báo cho bảo vệ của Siêu thị và Công an phường Thanh Khê Đông. Qua kiểm tra, truy tìm thì phát hiện D đang trốn tại quầy Bowling ở tầng 02 của Siêu thị nên giữ lại kiểm tra và đã thu giữ được số tiền 7.750.000 đồng trong người D.

Vật chứng thu giữ:

- 01 đĩa CD chứa dữ liệu điện tử trích xuất từ Camera an ninh của cửa hàng JONO ghi lại việc D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

- Số tiền 7.750.000 đồng thu giữ của Dương Hiển D.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 703/KLGĐ ngày 30/8/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực Miền trung - Bộ Y tế đối với Dương Hiển D như sau:

“* Trước thời điểm gây án:

a. Kết luận về y học: Rối loạn phân liệt thể Paranoid, tiến triển từng giai đoạn có thuyên giảm (F20.03);

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Tại thời điểm gây án:

a. Kết luận về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển từng giai đoạn có thuyên giảm (F20.03).

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Thời điểm hiện tại:

a. Kết luận về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid, tiến triển từng giai đoạn có thuyên giảm (F20.03).

Đối tượng cần điều trị ngoại trú liên tục.

b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi”.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là số tiền 7.750.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Dương Hiển D về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Hiển D trình bày nội dung sự việc và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Dương Hiển D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Hiển D từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Số tiền 7.750.000 đồng thu giữ của Dương Hiển D; ngày 31/5/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Thanh T nên không đề cập giải quyết.

- Về trách nhiện dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo Dương Hiển D và người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Doãn Thị Mỹ C không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Hiển D thống nhất với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo D. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo thì thấy, trước đây bị cáo sống với cha mẹ và bị cha bạo hành nên cha mẹ của bị cáo đã ly hôn, bị cáo hiện sống cùng với mẹ là bà Doãn Thị Mỹ C, khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo không nhận thức được đầy đủ hành vi của mình là vi phạm pháp luật; mục đích phạm tội của bị cáo chỉ là bộc phát nhất thời; tại kết luận giám định pháp y tâm thần khu vực miền trung kết luận trước khi gây án, tại thời điểm gây án và thời điểm hiện tại Dương Hiển D bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, đối tượng cần được điều trị ngoại trú liên tục; bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự, áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo, cụ thể là áp hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo để bị cáo có điều kiện được cải tạo tu dưỡng và có điều kiện được điều trị ngoại trú để phục hồi khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, đối đáp với người bào chữa cho bị cáo Dương Hiển D, thưa HĐXX, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo D từ 09 tháng 12 tháng tù cho hưởng án treo là đã xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện được tại ngoại để bị cáo có điều kiện điều trị bệnh để phục hồi khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Bị cáo Dương Hiển D nói lời sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi vi phạm của mình, bị cáo hứa sẽ không vi phạm nữa, bị cáo sẽ ở nhà với mẹ, phụ giúp mẹ trong công việc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Qua xem xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người bị hại; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; biên bản trích xuất camera cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 20/5/2021 Dương Hiển D có hành vi trộm cắp số tiền 7.750.000đ (Bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) của bà Nguyễn Thị Thanh T tại cửa hàng JONO thuộc tầng 1 Siêu thị C. Hành vi của bị cáo Dương Hiển D đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét thấy, bị cáo Dương Hiển D là người đã trưởng thành, có năng lực điều khiển hành vi, có sức khỏe, nhưng không chịu lao động chân chính bằng sức lao động của mình, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác thành tài sản của mình để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục, tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của luật sư người bào chữa cho bị cáo cũng có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập không ổn định, bị cáo sống nhờ vào sự chu cấp, nuôi dưỡng của mẹ ruột là bà Doãn Thị Mỹ C nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập và không buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập.

Xử lý vật chứng: Số tiền 7.750.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho người bị hại là bà Nguyễn Thị Thanh T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với 01 đĩa CD chứa dữ liệu điện tử trích xuât từ Camera an ninh của cửa hàng JONO ghi lại việc D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bỏ trong phong bì đã được đánh số bút lục nên tiếp tục lưu dữ tại hồ sơ vụ án.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, theo quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị cho bị cáo được tiếp tục tại ngoại để điều trị bệnh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị nêu trên là quá nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo mà phạt cải tạo không giam giữ để cho bị cáo có điều kiện được điều trị bệnh, đồng thời thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Hiển D phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Hiển D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Dương Hiển D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Dương Hiển D về Ủy Ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đ để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án và phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hánh án hình sự.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Hiển D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

3. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Doãn Thị Mỹ C và người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Dương Hiển P; người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Cỡ chữ