vanban.org

Bản án 129/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn B phải nộp …

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Bính - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn B phải nộp …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2021/HS-ST
Ngày 07-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 279/2021/TB-TA ngày 26/11/2021đối với bị cáo:

Lê Văn B, sinh ngày 01 tháng 10 năm 198X tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Khu K, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị C; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 24/10/2021; tạm giam ngày 26/10/2021; có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: Đườn H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 23/10/2021 anh Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15B2-998.75 về nhà anh Đ tại Số 528 Hoàng Minh Thảo, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và dựng chiếc xe trên tại trước cửa nhà Số 526 Hoàng Minh Thảo cách cửa nhà khoảng 3m, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra đường Hoàng Minh Thảo rồi đi vào nhà lấy hàng. Anh Đ vẫn cắm chìa khóa ở xe, xe bật điện, không nổ máy, không khóa cổ. Lúc này Lê Văn B đang đi bộ một mình trên đường Hoàng Minh Thảo thấy chiếc xe trên không ai trông coi, B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên. B tiến lại gần chiếc xe, ngồi lên xe, quay đầu xe ra phía ngoài đường, nổ máy xe định phóng xe đi thì bị anh Đ phát hiện, đuổi theo dùng tay phải bám vào đuôi xe. B tăng ga điều khiển xe bỏ chạy theo hướng ngã tư chợ Hàng - Hoàng Minh Thảo, anh Đ vẫn dùng tay bám vào đuôi xe chạy theo. Khi xe đi được khoảng 40m đến khu vực lòng đường trước cửa nhà số 499 Hoàng Minh Thảo thì B bị mất lái khiễn xe bị đổ về phía bên phải, B ngã xuống đường và bị anh Đ cùng người dân bắt giữ cùng tang vật sau đó đưa về trụ sở Công an phường Dư Hàng Kênh lê Chân Hải phòng lập biên bản. Vật chứng thu giữ là chiếc xe mô tô AirBlade đã thu hồi, trả lại cho anh Đ là chủ sở hữu hợp pháp.

Tại Cơ quan Điều tra bị hại Phạm Văn Đ khai phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Văn B. Hiện anh Đ đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Đ đề nghi tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận định giá sản số 110/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản quận Lê Chân, Hải phòng kết luận: “ Giá trị còn lại của chiếc xe mô to nhãn hiệu Honda AirBlad, biển kiểm soát 15B2- 998.75 trên là 15.500.000đồng”

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 137/QĐ-VKSLC ngày 16/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn B khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Đ như nội dung nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Văn B mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe mô tô nhãn hiệu AirBlade biển kiểm soát 15B2-998.75 đã được thu hồi trả lại cho bị hại là anh Phạm Văn Đ, anh Đ không còn yêu cầu bồi thường gì khác, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về hòa đồng với xã hội và cải tạo thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai bị hại; vật chứng thu giữ; Bản Kết luận định giá tài sản số 110 ngày 24/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản quận Lê Chân, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, lời khai đó thể hiện: Khoảng 18 giờ ngày 23/10/2021 Lê Văn B đã lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15B2-998.75 trị giá 15.500.000 đồng (mười năm triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Phạm Văn Đ tại khu vực trước cửa nhà số 526 Hoàng Minh Thảo, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Như vậy hành vi của bị cáo đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo theo mức mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận bất an trong quần chúng, nhân dân nên cần xử lý nghiêm.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáokhông có tình tiết tăng năng TNHS. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngữa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Song theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu đen, biển kiểm soát 15B2-998.75 đã được thu hồi trả lại cho bị hại là anh Phạm Văn Đ và anh Đ không còn yêu cầu bồi thường gì khác. Như vậy trách nhiệm bồi thường dân sự đã được giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn B 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24 tháng 10 năm 2021.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- Bị hại;

- VKSND thành phố;

- VKSND quận Lê Chân;

- Công an quận Lê Chân;

- Phòng PV06; PC10;

- THA hình sự;

- Chi cục THADS quận Lê Chân;

Phạm Thị Phong Lan

- Sở tư pháp;

- UBND nơi bị cáo cư trú;

- Lưu: HS, VT. Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TANDTP Hải Phòng;

- VKSND thành phố

- VKSND Quận Lê Chân;

- Công an Quận Lê Chân + PV 06;

- Bị cáo + THA phạt tù + PC10;

- Chi cục THADS Quận Lê Chân;

- UBND xã Tiên Thắng, Tiên Lãng, Hải Phòng.

- Sở tư pháp;

- Lưu VT, hồ sơ vụ án.

Phạm Thị Phong Lan Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- VKSND quận Lê Chân;

- VKSND TP Hải Phòng;

- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;

- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;

- UBND phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;

- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê

Phạm Thị Phong Lan Chân;

- PV27 Công an TP Hải Phòng;

- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- VKSND quận Lê Chân;

- VKSND TP Hải Phòng;

- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;

- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;

- UBND phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;

- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê

Phạm Thị Phong Lan Chân;

- PV27 Công an TP Hải Phòng;

- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Phong Lan Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- VKSND quận Lê Chân;

- VKSND TP Hải Phòng;

- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;

- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;

- UBND phường Đông Hải 1, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;

Phạm Thị Phong Lan

- UBND phường Cát Bi, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;

- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;

- PV27 Công an TP Hải Phòng;

- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

TÒA

Phạm Thị Phong Lan

Cỡ chữ