- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2021/HNGĐ-ST Ngày 24-8-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Xuân Quyết
Bà Nguyễn Thị Luyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 90/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1988; ĐKHKTT: Số 41 CĐ, phường CĐ, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi ở thường trú: Số 36 WHl road, Chf, CM 1 4ab - Vương Quốc Anh; nơi ở hiện tại: Số 41 CĐ, phường CĐ, quận NQ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Hà Văn B, sinh năm 1988; ĐKHKTT: Tổ 10, đường X phường HV, quận HB, thành phố Hải Phòng, hiện đang ở nước ngoài; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị A trình bày:
Chị Ngọc Anh kết hôn với anh Hà Văn B trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cầu Đất, thành phố Hải Phòng vào ngày 19 tháng 7 năm 2016. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc được mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng trong cuộc sống. Vợ chồng anh chị đã cố gắng hòa hợp song mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải song không đạt kết quả. Anh Huy đã đi nước ngoài từ cuối năm 2018 và hiện nay đang sinh sống tại nước ngoài. Anh Hà Văn B vẫn thường xuyên liên lạc qua với bố mẹ anh là ông Hà Văn D và bà Nguyễn Thị Oanh. Địa chỉ cuối cùng ở Việt Nam của anh Hà Văn B trước khi đi nước ngoài: Tổ 10, đường X phường HV, quận HB, thành phố Hải Phòng. Địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của anh Huy chị không biết. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huy.
Về con chung: Chị Ngọc Anh và anh Huy có 01 con chung là Hà Thanh Tuệ C, sinh ngày 27/4/2018. Hiện nay, cháu đang ở với chị Ngọc Anh. Ly hôn, chị Ngọc Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung chị tự giải quyết với anh Hà Văn B, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Ngọc Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Hà Văn B:
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cho ông Hà Văn D và bà Nguyễn Thị E – là bố mẹ đẻ của anh Hà Văn B. Tòa án đã thông báo hai lần cho ông Hà Văn D và bà Nguyễn Thị Oanh về việc cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Hà Văn B ở nước ngoài và yêu cầu ông bà cho biết kết quả về việc ông bà đã thông báo cho anh Hà Văn B để gửi lời khai về Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai của ông Hà Văn D ngày 26 tháng 7 năm 2021 thể hiện: Anh Hà Văn B vẫn liên lạc qua điện thoại với ông và gia đình nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể anh Hà Văn B ở đâu. Ông D đã thông báo cho anh Hà Văn B về yêu cầu của Tòa án tuy nhiên anh Huy không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án. Gia đình ông Hà Văn D yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn của anh Hà Văn B và chị Nguyễn Thị A theo quy định của pháp luật và đồng ý giao cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã
́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự ; nguyên đơn đa thực hiện đũ
́ng các quyền và nghia vu ̣̃ đúng theo quy định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự ; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Hà Văn B vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ vợ chồng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn với anh Hà Văn B. Về con chung: Giao con chung là Hà Thanh Tuệ C, sinh ngày 27/4/2018 cho chị Nguyễn Thị A nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Nguyễn Thị A không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa, xét thấy:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Hà Văn B có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở nước ngoài, nguyên đơn chị Nguyễn Thị A có địa chỉ thường trú tại Vương Quốc Anh, hiện đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt, chị Nguyễn Thị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Hà Văn B: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Hà Văn B vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Ngọc Anh kết hôn với anh Hà Văn B trên cơ sở tự nguyện của hai bên, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cầu Đất, thành phố Hải Phòng vào ngày 19 tháng 7 năm 2016. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị A và anh Hà Văn B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A.
Về con chung: Xét thấy, hiện nay con chung là cháu Hà Thanh Tuệ C đang ở với chị Nguyễn Thị A, anh Hà Văn B đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể, không có lời khai thể hiện quan điểm về con chung. Mặt khác, gia đình anh Hà Văn B đồng ý để cho chị Nguyễn Thị A được nuôi dưỡng con chung. Do đó, cần giao con chung cho chị Nguyễn Thị A chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị A là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Hà Văn B.
2. Về con chung: Giao con chung là Hà Thanh Tuệ C, sinh ngày 27/4/2018 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghin đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án
̀ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghin đồng ) theo Biên lai thu
̀ tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018961 ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị A đa nô ̣̃ p đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị A (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Anh Hà Văn B (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HCTP, HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đỗ Xuân Quyết - Nguyễn Thị Luyến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp |