vanban.org

Bản án 129/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lê Thị Thủy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1/ Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự: Xử phạt: Lê Thị Thủy T: 01 (Một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Thị Thủy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2020/HSST
Ngày: 28 - 9 -2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thảo

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2020/QĐXXST-HS ngày 22/7/2020; Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 93/TB-TA ngày 31/7/2020; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 93/TB-TA ngày 07/9/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2020/HSST-QĐ ngày 15/9/2020 đối với:

* Bị cáo: Lê Thị Thủy T - Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1994 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Tổ 38, phường M, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Lê Thị Phương Y; có chồng là Phan Văn L; bị cáo có 03 con, con nhỏ nhất sinh ngày 16/10/2018.

Tiền án: Không

Tiền sự: có 02 tiền sự:

- Ngày 22/8/2019, Lê Thị Thủy T bị Công an phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính số tiền 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 290/QĐ-UBND.

- Ngày 18/9/2019, Lê Thị Thủy T bị Ủy ban nhân dân phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 428/QĐ-UBND.

Nhân thân:

- Tại Bản án hình sự số 38/2015/HSST ngày 27/3/2015 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt Lê Thị Thủy T 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”

- Tại Bản án hình sự số 33/2020/HS-ST ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt Lê Thị Thủy T một năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đang thi hành án đối với Bản án hình sự số 33/2020/HS-ST ngày 26/5/2020 của TAND quận Liên Chiểu kể từ ngày 16/9/2020, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1/ Ông Phan Văn P - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Số 29 đường L1, phường 7, thành phố H, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

2/ Ông Lê Tấn V - Sinh năm 1988 - Địa chỉ: Khu phố 3, phường P1, thành phố H, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

3/ Ông Nguyễn Thanh T1 - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: xã S, huyện N, tỉnh Bình Định. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/12/2019, Lê Thị Thủy T cùng một người đàn ông có tên Thiện đến thuê phòng 205 tại Khách sạn K1 ở số 701 đường N1, phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng để nghỉ qua đêm. Đến khoảng 02 giờ ngày 07/12/2019, khi đi ngang qua trước cửa phòng số 202 của khách sạn, T thấy cửa phòng hé mở, bên trong phòng có 03 người (là các anh: Lê Tấn V, Phan Văn P, Nguyễn Thanh T1) đang ngủ, trên bàn có 03 điện thoại di động đang sạc pin. Lúc này T nảy sinh ý định trộm cắp nên lén lút đi vào phòng lấy trộm: 01 điện thoại Xiaomi Redmi A5 màu hồng của anh V, 01 điện thoại di động hiệu Samsung S8 Plus của anh P, 01 điện thoại Xiaomi Mi8 màu trắng của anh T1 rồi mang về phòng cất giấu, lúc này người đàn ông tên Thiện vẫn đang ngủ. Đến sáng cùng ngày, T mang 03 điện thoại đã trộm cắp về nơi ở của mình tại phòng 203, chung cư M, phường M, quận C, thành phố Đà Nẵng cất giấu vào trong tủ đựng quần áo. Trên cơ sở trình báo của người bị mất tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra đã làm việc với Lê Thị Thủy T và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tự nguyện giao nộp 03 điện thoại đã trộm cắp.

Bị hại là các anh: Lê Tấn V, Phan Văn P, Nguyễn Thanh T1 đã được trả lại tài sản và không có ý kiến, yêu cầu gì.

Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 26/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận Thanh Khê xác định: điện thoại Xiaomi Redmi A5 có giá trị 600.000đồng, điện thoại di động hiệu Samsung S8 Plus có giá trị 3.000.000đồng, điện thoại Xiaomi Mi8 có giá trị 3.000.000đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản Lê Thị Thủy T đã chiếm đoạt là 6.600.000đồng.

* Cáo trạng số: 98/CT-VKS-TK ngày 01 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố Lê Thị Thủy T về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị:

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt Lê Thị Thủy T từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự số 33/2020/HS-ST ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Về xử lý tang vật: Tang vật của vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề nghị xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập.

* Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thủy T không có ý kiến tranh luận đối với nội dung luận tội của Kiểm sát viên; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện chăm sóc con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo thì thấy:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai khác và chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 07/12/2019, tại phòng 202 khách sạn K1 ở số 701 đường N1, phường X, quận K, thành phố Đà Nẵng bị cáo Lê Thị Thủy T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lê Tấn V một điện thoại Xiaomi Redmi A5 trị giá 600.000đồng, chiếm đoạt của anh Phan Văn P một điện thoại di động hiệu Samsung S8 Plus trị giá 3.000.000đồng, chiếm đoạt của anh Nguyễn Thanh T1 một điện thoại Xiaomi Mi8 trị giá 3.000.000đồng; tổng giá trị tài sản Lê Thị Thủy T đã chiếm đoạt là 6.600.000đồng.

Do vậy có đủ cơ sở để kết luận Lê Thị Thủy T đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:

Lê Thị Thủy T là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe nhưng do lười lao động, ham hưởng thụ nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 6.000.000 đồng nên thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi ba con nhỏ trong đó có một con dưới 36 tháng tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của bị cáo Lê Thị Thủy T không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, trước lần phạm tội này, bị cáo đã từng bị xét xử 02 lần cũng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không biết ăn năn, sửa đổi bản thân mà vẫn lao vào con đường phạm tội nên cần xử nghiêm và nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích.

[Xét thấy nội dung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về tang vật của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nhận thấy: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả điện thoại Xiaomi Redmi A5, điện thoại di động hiệu Samsung S8 Plus, điện thoại Xiaomi Mi8 cho người bị hại là các anh: Lê Tấn V, Phan Văn P, Nguyễn Thanh T1 là phù hợp nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về phần dân sự nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Lê Thị Thủy T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lê Thị Thủy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1/ Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Lê Thị Thủy T: 01 (Một) năm tù.

Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự số 33/2020/HS-ST ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, buộc Lê Thị Thủy T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 9 năm 2020.

2/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Buộc Lê Thị Thủy T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc từ ngày niêm yết) bản án.

Cỡ chữ