- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2020/HS-ST Ngày 10-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Nguyễn Văn Hạnh.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Như T (T sứt), sinh năm 1969 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ 29 phường N, quận L, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Như B và bà Lê Thị C (đều đã chết); không có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bị cáo có 07 tiền án đều đã được xóa án tích: Bản án số 149 ngày 26/5/1988, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; bản án số 151 ngày 20/10/1989, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích; bản án số 80 ngày 17/7/1992, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; bản án số 521 ngày 28/12/1996, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản của công dân; bản án số 190 ngày 13/12/2000, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bản án số 255 ngày 29/9/2004, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bản án số 27 ngày 13/8/2013, Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị tạm giữ ngày 12/6/2020; tạm giam ngày 16/6/2020; có mặt.
- Bị hại: Ông Vũ Ngọc Đ, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số 129/81 P, phường N, quận L, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 11/6/2020, T đi bộ lang thang từ cầu Niệm đến khu vực bến xe Niệm Nghĩa. Khi đi vào bên trong, thấy ở chính giữa bãi đỗ xe hàng ô tô thứ hai, bên cạnh cây cột điện có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát 15B2-668.78 màu xanh không có ai trông coi, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. T tiến đến, thấy xe không khóa cổ nên đã dắt chiếc xe đi ra cổng lối vào của xe khách, khi đến đoạn nhà điều hành bến xe thì ngồi lên xe, đạp chân xuống đất để đẩy xe đi. Khi ra cổng bến xe rẽ trái được khoảng 200 mét, T xuống dắt xe đi về đường Thiên Lôi, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 48 Phạm Tử Nghi, quận Lê Chân, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an cùng chủ sở hữu xe là ông Vũ Ngọc Đ, sinh năm 1963, nơi cư trú: số 129/81 P, quận L, H bắt giữ, đưa về trụ sở Công an phường Nghĩa Xá làm việc.
Bản Kết luận định giá tài sản số 65/KL-ĐGTTHS ngày 12/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B2-668.78 là 4.000.000 đồng.
Ngày 12/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Như T về hành vi Trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan điều tra, xét hỏi Trần Như T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã thu giữ của T 01 mũ nan màu vàng, 01 quần đùi màu xanh và 01 áo phông màu xanh là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe trên.
Bị hại là ông Vũ Ngọc Đ khai: Ông Đ đang làm nghề xe ôm tại bến xe Niệm Nghĩa. Khoảng 9 giờ 35 phút ngày 11/6/2020 khi phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B2-668.78 của ông đang dựng cạnh cây cột điện ở chính giữa bến xe bị mất, ông Đ đã đến Công an phường Nghĩa Xá trình báo và ngay sau đó cùng với lực lượng Công an phường đi truy tìm đối tượng trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 48 Phạm Tử Nghi, quận Lê Chân, Hải Phòng, lực lượng Công an phát hiện Trần Như T đang dắt chiếc xe mô tô trên của ông Đ nên đã tiến hành bắt giữ. Hiện ông Đ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì về bồi T dân sự.
Tại Bản Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 19/8/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trần Như T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Như T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Trần Như T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Như T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ lan màu vàng nhạt; 01 quần đùi màu xanh, cạp quần có họa tiết là chữ “XC”; 01 áo phông không cổ xanh tím than viền màu đỏ, cổ có nhãn hiệu Comely.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 11/6/2020, bị cáo Trần Như T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jupiter biển kiểm soát: 15B2-668.78 của ông Vũ Ngọc Đ, trị giá tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá là 4.000.000 đ (bốn triệu đồng). Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Trần Như T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội.
- Về nhân thân:
Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bảy lần bị kết án, các tiền án này tuy đều đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém, vì vậy cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 mũ lan màu vàng nhạt; 01 quần đùi màu xanh, cạp quần có họa tiết là chữ “XC”; 01 áo phông không cổ xanh tím than viền màu đỏ, cổ có nhãn hiệu Comely là tài sản riêng của bị cáo nhưng tại phiên tòa bị cáo không xin lại và xét không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Vũ Ngọc Đ đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe môtô Jupiter biển kiểm soát: 15B2-668.78, ông Đ không có yêu cầu bồi T nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Như T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12 tháng 6 năm 2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ lan màu vàng nhạt; 01 quần đùi màu xanh, cạp quần có họa tiết là chữ “XC”; 01 áo phông không cổ xanh tím than viền màu đỏ, cổ có nhãn hiệu Comely, được đựng trong túi nilon dán kín có đóng dấu giáp lai của Cơ quan CSĐT.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 19/8/2020 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại ông Vũ Ngọc Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố;
- VKSND quận Lê Chân;
- Công an quận Lê Chân;
- Phòng PV06; PC10;
- THA hình sự;
- Chi cục THADS quận Lê Chân;
- Sở tư pháp;
Nguyễn Ngọc Hà
- UBND nơi bị cáo cư trú;
- Lưu: HS, VT.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Mai
Nguyễn Văn Hạnh
Nguyễn Ngọc Hà
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Ninh |