- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Hoàng P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2019/HS-ST Ngày 21-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm
Bà Nguyễn Kim Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2019/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Ngô Hoàng P, sinh năm: 1997 tại Bình Dương; đăng ký thường trú: Khu phố X, phường HA, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thanh H, sinh năm: 1969 và bà Đỗ Hồng N, sinh năm: 1970; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị QN, sinh năm: 1991 và 01 con, sinh năm: 2018; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2019 - có mặt.
- Ng i làm ch ng:
1. Nguyễn T – vắng mặt;
2. Nguyễn TP – vắng mặt;
3. Lê MĐ – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 16 giờ 10 phút ngày 19/4/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp với Công an phường TĐ kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang Ngô Hoàng P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, P khai: Vào lúc 12 giờ ngày 19/4/2019, P cùng bạn tên D (không rõ lai lịch) và Nguyễn T cùng ăn và uống bia tại nhà trọ của P (số M dãy E, khu dân cư HG, khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương). Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn TP và Lê MĐ là bạn của P tới ăn uống cùng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, D ra về. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P nói với T, TP, MĐ là P đi mua thêm thức ăn nhưng thực chất là đi mua ma túy về sử dụng. P dùng điện thoại hiệu ViVo, sim số 0343.322806 liên lạc với K (không rõ lai lịch), P không nhớ số điện thoại, chỉ nhớ các số cuối là 468 để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. K đồng ý và hẹn giao ma túy cho P tại cổng Trường Tiểu học TĐ. P đi đến cổng trường thì được một người thanh niên khoảng 20 tuổi (không rõ lai lịch) đưa cho 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa ma túy dạng tinh thể. Sau khi mua ma túy, P đem về cất giấu trong phòng trọ của P. Đến khoảng 16 cùng ngày, P lấy ma túy ra sử dụng và kêu T, TP, MĐ cùng sử dụng. Sau khi sử dụng được một ít ma túy, P kêu cả nhóm ngưng sử dụng để ra ăn uống tiếp thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản thu giữ:
- 01 đoạn ống thủy tinh bên trong chứa chất màu vàng tại phòng ngủ của Ngô Hoàng P:
- 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu hồng, số máy 866580037866476, có sim số 0343.322806 của Ngô Hoàng P.
Theo Kết luận giám định số 328/MT-PC54 ngày 24/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có trọng lượng: 0,1874 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong, có trọng lượng 0,0971 gam.
Các đối tượng Lê MĐ, Nguyễn TP, Nguyễn T đều không biết việc P đi mua ma túy và cất giấu trong nhà. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của MĐ, TP, T đến Công an thị xã Bến Cát để xử lý. Ngày 19/5/2019, Trưởng Công an thị xã Bến Cát ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42, 43, 44 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với các đối tượng này.
Đối với người đàn ông tên K và người thanh niên khoảng 20 tuổi đã bán ma túy cho Ngô Hoàng P không rõ nhân thân, lai lịch. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 05/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngô Hoàng P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội:
+ Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 05/8/2019 đối với bị cáo Ngô Hoàng P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với các mẫu vật còn lại sau giám định và các công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng; tịch thu, nộp ngân sách 01 điện thoại di động.
- Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Hoàng P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Lúc 16 giờ 10 phút ngày 19/4/2019, Ngô Hoàng P có hành vi cất giấu 01 đoạn ống thủy tinh, bên trong chứa chất màu vàng để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số 328/MT-PC54 ngày 24/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma tuý, có trọng lượng: 0,1874 gam, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy bị cấm sản xuất, sử dụng, tàng trữ, vận chuyển và mua bán ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Bản Cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 05/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo P với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức kho con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) của bị cáo là hết sức nguy hiểm, không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma tuý mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương.
Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nghề nghiệp, có sức khỏe nhưng không chí thú làm ăn. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với con người và xã hội, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ thiếu ý thức, liều lĩnh, xem thường pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê MĐ, Nguyễn TP, Nguyễn T: Trưởng Công an thị xã Bến Cát đã ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người đàn ông tên K và người thanh niên khoảng 20 tuổi đã bán ma túy cho Ngô Hoàng P không rõ nhân thân, lai lịch: Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
Về vật chứng:
- Kết quả điều tra xác định trọng lượng ma túy (Methamphetamine) thu được là 0,1874 gam; sau giám định còn lại 0,0971 gam. Cơ quan giám định niêm phong, hoàn trả Cơ quan điều tra. Do đó cần tịch thu tiêu hủy trọng lượng ma túy còn lại.
- Điện thoại di động dùng làm phương tiện phạm tội: Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
- 01 (mộ1t) sim điện thoại số 0343.322806: Cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Ngô Hoàng P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2019.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì thư được niêm phong ghi số 328/MT-PC09, bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh chứa 0,0971 gam, loại Methamphetamine;
+ 01 (một) sim số 0343.322806.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng, số máy 866580037866476.
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2019).
3. Về án phí: Bị cáo Ngô Hoàng P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |