- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2019/HS-ST. Ngày: 30-5-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Hữu Dần
2. Ông Nguyễn Công Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Thế P; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1993; tại: tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú hiện nay: Thôn 1, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đình H, sinh năm: 1962 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1964 hiện trú tại: Thôn 1, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không; tiền án: Không;
Nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại tỉnh Đắk Lắk. Được gia đình cho đi học đến lớp 12/12, thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.
Ngày 05/3/2019, phạm tội cướp giật tài sản. Ngày 08/3/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột khởi tố và tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Hồ Thị N - sinh năm 1999 - (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp PH 2, xã BH, huyện CT, tỉnh An Giang.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trịnh Đình H và bà Nguyễn Thị N - (có mặt).
Địa chỉ: Thôn 1, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk
2. Ông Nông Cát L- (có mặt).
Địa chỉ: Thôn 6, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk
- Người làm chứng: Anh Lê Quang V - (vắng mặt).
Trú tại: 13/6 NK, phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 05/3/2019 khi Trịnh Thế P đang ở nhà tại huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk thì nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định phạm tội, P cắt một đoạn băng keo màu đen, dùng để thay đổi biển số xe mô tô của gia đình từ 47H2-6833 thành biển số 47H2-6883, nhằm mục đích khi thực hiện hành vi phạm tội để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện. Sau đó, P điều khiển xe mô tô biển số: 47H2-6883, đi đến địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tìm tài sản của người dân để cướp giật. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi đến đường L, phường TA, thành phố Buôn Ma Thuột, P thấy chị Hồ Ngọc N (sinh năm: 1999, trú tại: Ấp PA2, xã BH, huyện CT, tỉnh An Giang), đang ngồi uống nước và nghe điện thoại tại quán cà phê “Hub Cafe” trong khuôn viên bãi đậu xe ô tô của siêu thị Coopmart, địa chỉ: 71 NTT, phường TA, thành phố B. Quan sát xung quanh thấy ít khách và vắng người qua lại nên P điều khiển xe mô tô biển số: 47H2-6883, đến dừng cạnh bên phải chị N, mục đích tìm cách cướp giật chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 của chị N. Lúc này, P ngồi trên xe mô tô biển số: 47H2-6883, xe mô tô vẫn đang nổ máy và nói anh Lê Quang V (là nhân viên quán cà phê “Hub Cafe”), bán cho P 01 ly sinh tố mang về, mục đích để P có thời gian tìm cách cướp giật điện thoại của chị N. Khoảng 01 phút sau, P dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của chị N rồi chuyền điện thoại qua tay trái giữ và dùng tay phải tăng ga xe mô tô chạy tẩu thoát về hướng cổng đường NTT thì bị chị N nắm được áo khoác kéo lại, tri hô “Cướp, cướp”. Do loạng tay lái nên P làm rơi chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 vừa cướp giật được xuống đường và kéo theo chị N được khoảng 05m thì bị ngã xe. P liền đứng lên bỏ chạy ra đường NTTthì bị lực lượng Công an phường TAcùng quần chúng nhân dân bắt quả tang, thu giữ các tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 và 01 xe mô tô biển số: 47H2-6883, là các vật chứng của vụ án. Sau đó, chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 59/KLĐG ngày 11/3/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng - vàng đồng, có ốp nhựa dẻo, trị giá: 2.500.000 đồng.
Đối với chị Hồ Ngọc N, sau khi bị Trịnh Thế P cướp giật điện thoại di động, P điều khiển xe mô tô tẩu thoát kéo theo chị N trên đường gây thương tích nên chị N phải vào bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh điều trị. Ngày 27/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của chị Hồ Ngọc N. Tại bản kết luận pháp y thương tích số: 439/PY-TgT ngày 28/3/2019, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chị Hồ Ngọc N bị chấn thương phần mềm hai gối, tỷ lệ thương tích 02%. Ngày 08/3/2019, bà Nguyễn Thị N (sinh năm: 1964, trú tại: Thôn 1, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk, là mẹ của bị cáo Trịnh Thế P), đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho chị N số tiền 550.000 đồng (là tiền khám chữa bệnh và tiền công lao động). Sau khi nhận tiền chị N đã tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách Nệm hình sự cho bị cáo P.
Tại Bản cáo trạng số 125/CT-VKSBMT ngày 18/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Trịnh Thế P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa: bị cáo Trịnh Thế P hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Trịnh Thế P phạm tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Thế P từ 03 năm đến 04 năm tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 và Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Tịch thu tiêu hủy một đoạn băng keo kích thước (06x02) cm, mặt màu đen (3,5x0,8) cm.
- Chấp nhận việc bà Nguyễn Thị N (là mẹ bị cáo P) tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho chị Hồ Ngọc N số tiền 550.000 đồng (là tiền khám chữa bệnh và tiền công lao động).
- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát Điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại cho chị Hà Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng - vàng đồng.
Bị cáo Trịnh Thế P không bào chữa và tham gia tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tham gia tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Bị cáo Trịnh Thế P là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng do ý thức coi thường pháp luật, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng nên khoảng 22 giờ ngày 05/3/2019, tại quán cà phê “Hub Café”, địa chỉ: 71 NTT, phường TA, thành phố B, bị cáo Trịnh Thế P điều khiển xe mô tô biển số: 47H2-6833, cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng - vàng đồng của chị Hồ Ngọc N rồi nhanh chóng tẩu thoát thì bị phát hiện bắt quả tang. Xác định trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.500.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Thế P phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm.”
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trịnh Thế P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người đúng tội.
Bị cáo Trịnh Thế P là người có nhận thức và năng lực trách Nệm hình sự, bị cáo biết được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, hành vi dùng xe mô tô đi cướp giật tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến tài sản, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa P. Do vậy đối với bị cáo Trịnh Thế P cần phải xử lý nghiêm khắc buộc cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay.
Về tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Trịnh Thế P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại viết đơn bãi nại, xin Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô biển số: 47H2-6833 là tài sản của ông Trịnh Đình H, mua lại của ông Nông Cát L nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ theo quy định của pháp luật, ông Trịnh Đình H là người cho bị cáo Trịnh Thế P mượn xe mô tô biển số: 47H2-6833, nhưng ông Hiền không biết bị cáo P dùng xe mô tô vào việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không xử lý trách Nệm hình sự, là phù hợp.
Ngày 12/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, ra Quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy của xe mô tô. Tại bản kết luận giám định số: 227/PC09 ngày 26/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chiếc xe mô tô biển số: 47H2-6833, số khung: Không có; số máy: Không thay đổi, biển số: Là biển số thật. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, chưa xác minh làm rõ được số khung của xe mô tô biển số 47H2-6833, nên tách xe mô tô ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự
- Tịch thu tiêu hủy một đoạn băng keo kích thước (06x02) cm, mặt màu đen (3,5x0,8) cm.
- Chấp nhận việc bà Nguyễn Thị N (là mẹ bị cáo P) tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho chị Hồ Ngọc N số tiền 550.000 đồng (là tiền khám chữa bệnh và tiền công lao động).
- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát Điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại cho chị Hà Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng - vàng đồng.
Về án phí: Bị cáo Trịnh Thế P phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trịnh Thế P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Thế P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 06/3/2019.
[2] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Đều 589 Bộ luật Dân sự.
- Chấp nhận việc bà Nguyễn Thị N tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho chị Hồ Ngọc N số tiền 550.000 đồng.
- Chấp nhận Cơ quan cảnh sát Điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại cho chị Hà Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng - vàng đồng.
- Tịch thu tiêu hủy một đoạn băng keo kích thước (06x02) cm, mặt màu đen (3,5x0,8) cm.
(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2019 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Thế P phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thành phố Buôn Ma Thuột; - Công an thành phố Buôn Ma Thuột; - Thi hành án phạt tù (để thi hành); - Chi cục THADS thành phố Buôn Ma Thuột; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Đông |