- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đức phạm tội “Cướp giật tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:129/2019/HS-ST Ngày 22/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Luyện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hồng
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn Đức, sinh năm 1994; tên gọi khác: Không;nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Phú Khê, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Mạnh, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Hoàn, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
* Bị hại: Chị Hoàng Thị Chinh, sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Nam Tiến, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Lương Văn Thức, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đông La, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng: Giáp Thị Hồng Vân, sinh năm 1995.( có mặt)
Địa chỉ: Thôn núi, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đức là công nhân Công ty CV Vina thuộc Khu công nghiệp Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/4/2019, sau khi ăn tối cùng các bạn, Đức điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 98B2- 982.60 từ huyện Việt Yên đi về nhà. Khi đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Hoàng Hoa Thám với đường đi vào tổ dân phố Thanh Mai, thuộc phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang, Đức thấy chị Hoàng Thị Chinh đang một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B2- 969.26 đi phía trước cùng chiều; sau lưng chị Chinh đeo 01 chiếc ba lô, bên trong ba lô có: 01 chứng minh thư nhân dân; 01 giấy phép lái xe mô tô; 01 đăng ký xe mô tô; 03 thẻ ATM của các Ngân hàng Techcombank, Agribank, Vietcombank đều mang tên Hoàng Thị Chinh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, vỏ mầu hồng, lắp sim số xxxx.xxx.xxx và số tiền 670.000 đồng. Thấy trời tối và không có người đi lại trên đường nên Đức nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền và tài sản trong chiếc ba lô của chị Chinh. Đức điều khiển xe bám theo sau xe của chị Chinh đến khu vực chợ cá thuộc khu 34, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang thì điều khiển xe vượt lên bên trái xe của chị Chinh. Khi xe mô tô của Đức và xe mô tô của chị Chinh đi song song với nhau thì Đức dùng tay trái điều khiển xe, còn tay phải cầm vào một dây quai xách chiếc ba lô của chị Chinh, rồi giật mạnh sang bên trái (về hướng người Đức) làm dây đeo bên phải chiếc ba lô bị đứt, dây đeo bên trái chiếc ba lô bị tuột khỏi vai chị Chinh. Đức cầm chiếc ba lô để vào vị trí trước yên xe của Đức rồi dùng tay phải tăng ga, tăng tốc độ xe bỏ chạy. Chị Chinh do bị bất ngờ nên không kịp hô hoán, ngăn cản mà tiếp tục điều khiển xe đuổi theo Đức nhưng không kịp. Chiếm đoạt được chiếc ba lô của chị Chinh, Đức điều khiển xe về khu vực bờ mương, gần cửa Uỷ ban nhân dân xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, kiểm tra chiếc ba lô thì thấy bên trong có các giấy tờ tùy thân của chị Chinh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, vỏ mầu hồng. Đức lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S của chị Chinh, vứt chiếc ba lô xuống bãi cỏ ven bờ mương rồi điều khiển xe về nhà.
Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, chị Chinh đến nhà chị Giáp Thị Hồng Vân nói cho chị Vân biết sự việc. Chị Chinh mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số xxxxxxxxxx của chị Vân gọi vào số thuê bao di động của chị Chinh nhưng không thấy ai nghe máy. Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 24/4/2019, Đức kiểm tra chiếc điện thoại di động chiếm đoạt của chị Chinh thì thấy có các cuộc gọi nhỡ nhưng không mở và sử dụng được vì điện thoại của chị Chinh có cài đặt mật khẩu khóa màn hình. Đức tháo sim điện thoại của chị Chinh ra rồi lắp sang điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng của Đức để liên lạc, còn sim điện thoại của Đức thì lắp vào chiếc điện thoại di động chiếm đoạt được của chị Chinh. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/4/2019, ông Lương Văn Thức đi bộ ven qua bờ mương, gần cửa Uỷ ban nhân dân xã Quế Nham, huyện Tân Yên thì phát hiện thấy chiếc ba lô của chị Chinh tại bãi cỏ ven bờ mương. Ông Thức kiểm tra chiếc ba lô thì thấy trong ba lô có: 01 chứng minh thư nhân dân; 01 giấy phép lái xe mô tô; 01 đăng ký xe mô tô; 03 thẻ ATM của các Ngân hàng Techcombank, Agribank, Vietcombank đều mang tên Hoàng Thị Chinh và số tiền 670.000 đồng. Ông Thức nhờ mọi người chia sẻ thông tin để chị Chinh biết, đến gặp ông Thức nhận lại giấy tờ và tài sản. Trưa cùng ngày 24/4/2019, chị Chinh đến nhà ông Thức nhận lại giấy tờ, tài sản trên rồi giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang để phục vụ công tác điều tra. Cùng ngày, chị Chinh sử dụng máy điện thoại di động mượn của chị Vân liên lạc, nói chuyện với Đức để chuộc lại chiếc điện thoại di động của chị Chinh bị Đức chiếm đoạt. Đức đồng ý và hẹn chị Chinh đến tối cùng ngày gặp nhau để chị Chinh chuộc lại chiếc điện thoại với giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, chị Chinh cùng chị Vân đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Hoàng Hoa Thám với đường đi vào tổ dân phố Thanh Mai, thuộc phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang gặp Đức để chuộc lại điện thoại. Khi Đức đang trao đổi với chị Chinh thì bị tổ tuần tra của Công an thành phố Bắc Giang kiểm tra phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ của Đức gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, vỏ mầu hồng có số IMEL là 353258078145312, bên trong lắp sim số xxxx.xxx.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng có số IMEL là 359302069527916, bên trong lắp sim số xxxx.xxx.xxx; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 98B2- 982.60; 01 ví da mầu đen; 01 chứng minh thư nhân dân, 01 đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Nguyễn Văn Đức.
Ngày 24/4/2019, chị Hoàng Thị Chinh có đơn trình báo Công an thành phố Bắc Giang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Đức, đồng thời tạm giữ của Đức: 01 áo khoác nhãn hiệu E.tech, phần ngực, vai và gáy bằng vải mầu đỏ, thân áo phía dưới mầu ghi, lưng áo được thiết kế bằng vải dạng dưới; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Napoli mầu xanh- đỏ- ghi, có kính chắn gió phía trước.
Cùng ngày 24/4/2019, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đức ở thôn Phú Khê, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nhưng không phát hiện thu giữ gì.
Ngày 26/4/2019 và ngày 14/5/2019, Cơ quan điều tra đã xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra vụ án, kết quả Nguyễn Văn Đức đã tự mô phỏng đầy đủ, chính xác hành vi cướp giật tài sản như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 53/KL- HĐĐG ngày 02/5/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, 64G mầu hồng đã qua sử dụng có trị giá 2.700.000 đồng; 01 sim điện thoại di động mạng Viettel (số thuê bao xxxx.xxx.xxx) có giá trị 50.000 đồng; 01 chiếc ba lô loại vải bò mầu xanh, nhãn hiệu Himawari, kích thước (20x23x10)cm, đã qua sử dụng có trị giá 60.000 đồng.
Ngày 05/5/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị Chinh: 01 chứng minh thư nhân dân; 01 giấy phép lái xe mô tô; 01 đăng ký xe mô tô; 03 thẻ ATM Ngân hàng Techcombank, Agribank, Vietcombank đều mang tên Hoàng Thị Chinh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, vỏ mầu hồng, lắp sim số xxxx.xxx.xxx; 01 chiếc ba lô loại vải bò mầu xanh, nhãn hiệu Himawari và số tiền 670.000 đồng. Chị Chinh không yêu cầu Nguyễn Văn Đức bồi thường gì khác.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 98B2- 982.60; 01 áo khoác nhãn hiệu E.tech, phần ngực, vai và gáy bằng vải mầu đỏ, thân áo phía dưới mầu ghi, lưng áo được thiết kế bằng vải dạng dưới; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Napoli mầu xanh- đỏ- ghi, có kính chắn gió phía trước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng có số IMEL là 359302069527916; 01 sim điện thoại di động mạng Viettel số thuê bao xxxx.xxx.xxx; 01 ví da mầu đen; 01 chứng minh thư nhân dân, 01 đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Nguyễn Văn Đức, được nhập kho vật chứng để xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 04 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đức về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận : Khoảng 23h30 ngày 23/4/2019 bị cáo có hành vi dùng xe mô tô để cướp giật tài sản của bị hại là Hoàng Thị Chinh khi chị Chinh đang điều khiển xe mô tô như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là chị Hoàng Thị Chinh khai: Khoảng 23h30 ngày 23/4/2019 tại đoạn đường thuộc phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang khi chị Chinh đang điều khiển xe mô tô thì bị bị cáo điều khiển xe mô tô đi cùng chiều giật chiếc ba lô chị Chinh đang đeo sau lưng, bên trong ba lô có các giấy tờ, tài sản như bản Cáo trạng đã nêu. Nay chị Chinh đã nhận lại được toàn bộ giấy tờ, tài sản, chị Chinh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng là chị Giáp Thị Hồng Vân khai: Buổi tối ngày 24/4/2019 chị Vân đi cùng chị Chinh đến khu vực đường Hoàng Hoa Thám,tại đây chị Chinh trực tiếp gặp bị cáo để chuộc điện thoại di động và chị Vân được chứng kiến sự việc lực lượng công an kiểm soát, lập biên bản và thu giữ đồ vật, tài sản của bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đức phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ , tạm giam 24/4/2019.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 98B2- 982.60 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Đức;
- Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng có số IMEL là 359302069527916 và 01 sim điện thoại di động mạng Viettel số thuê bao xxxx.xxx.xx; 01 áo khoác nhãn hiệu E.tech, phần ngực, vai và gáy bằng vải mầu đỏ, thân áo phía dưới mầu ghi, lưng áo được thiết kế bằng vải dạng dưới; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Napoli mầu xanh- đỏ- ghi, có kính chắn gió phía trước; 01 ví da mầu đen cũ đã qua sử dụng; 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Đức nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đức phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/4/2019 tại đoạn đường Hoàng Hoa Thám thuộc địa phận Khu 34, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bị cáo Đức có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 982.60 áp sát xe mô tô do chị Hoàng Thị Chinh điều khiển rồi thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc ba lô bằng vải trị giá 60.000 đồng, bên trong ba lô có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S trị giá 2.700.000 đồng, 01 sim điện thoại di động mạng Viettel trị giá 50.000 đồng và số tiền 670.000 đồng của chị Chinh. Tổng trị giá tài sản bị cáo Đức chiếm đoạt của chị Hoàng Thị Chinh là 3.480.000 đồng. Bị cáo đã dùng thủ đoạn dùng xe mô tô cướp giật tài sản của chị Chinh khi chị Chinh đang điều khiển xe mô tô trên đường gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của chị Chinh nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của chị Chinh được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tại phiên tòa bị hại là chị Hoàng Thị Chinh đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục bị cáo, phòng ngừa tội phạm cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 98B2-982.60 + 01 đăng ký xe mô tô là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng có số IMEL là 359302069527916 và 01 sim điện thoại di động mạng Viettel số thuê bao xxxx.xxx.xxx; 01 áo khoác nhãn hiệu E.tech, phần ngực, vai và gáy bằng vải mầu đỏ, thân áo phía dưới mầu ghi, lưng áo được thiết kế bằng vải dạng dưới; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Napoli mầu xanh- đỏ- ghi, có kính chắn gió phía trước; 01 ví da mầu đen; 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Nguyễn Văn Đức là của bị cáo nên cần trả lại theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đức phạm tội “Cướp giật tài sản”;
2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đức 03 năm tù , thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 24/4/2019.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 98B2- 982.60 và 01đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Đức;
- Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ mầu vàng có số IMEL là 359302069527916 và 01 sim điện thoại di động mạng Viettel số thuê bao xxxx.xxx.xxx; 01 áo khoác nhãn hiệu E.tech, phần ngực vai và gáy bằng vải mầu đỏ, thân áo phía dưới mầu ghi, lưng áo được thiết kế bằng vải dạng dưới; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Napoli mầu xanh- đỏ- ghi, có kính chắn gió phía trước; 01 ví da mầu đen cũ đã qua sử dụng; 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Văn Đức nhưng tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận tài sản tạm giữ ngày 15/7/2019, Quyết định chuyển vật chứng số 100/QĐ-VKS ngày 04/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Đức phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND thành phố Bắc Giang; - Công an thành phố Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS TP Bắc Giang; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |