vanban.org

Bản án 129/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Thanh N phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

Xử phạt bị cáo Tô Thanh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thanh N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Thanh N phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN QUẬN 6
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2019/HS-ST
Ngày: 22/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm N dân: Bà Vũ Thị Hiệp.

Ông Nguyễn Thái Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án N dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Việt Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án N dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Tô Thanh N; Sinh ngày: 13/5/1979; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 275/14B1 đường ĐNC, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tô Hữu T và bà: Âu Thị B; Có vợ: Là bà Lê Hồng T (đã ly hôn) và con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 11/9/2019.

(có mặt)

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Th; Sinh năm: 1997; Thường trú: Thôn TS2, xã ĐL, huyện MĐ, tỉnh Quảng Ngãi; Tạm trú: A5/22/16 D4, tổ 11, ấp 1B, xã VLB, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Thị Thu H; Sinh năm: 1996; Thường trú: Xã PP, huyện ĐP, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: 681 đường LĐT, Phường P, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Bà Diệp Sở A; Sinh năm: 1991; Trú tại: 16 đường LL, phường PT, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

3. Ông Hà Huỳnh T1; Sinh năm: 1981; Trú tại: 241/24/6 đường THĐ, Phường N, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 08/9/2019, ông Ma Anh D đến Công an Phường 14, Quận 6 trình báo việc bạn gái ông là bà Trần Thị Thu H bị mất chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 55P4-4833 tại trước quán cà phê M - số 27 đường TH, Phường N, Quận F.

Qua rà soát, Công an Phường 14, Quận 6 phát hiện chiếc xe gắn máy biển số 55P4-4833 đang được gửi tại bãi giữ xe của chung cư 78 đường THĐ, Phường N, Quận F. Qua làm việc, ông Hà Huỳnh T1 (chủ bãi giữ xe) cho biết chiếc xe trên là của Tô Thanh N đem đến bãi xe gửi vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 08/9/2019.

Sau khi thu giữ chiếc xe gắn máy biển số 55P4-4833, Công an Phường 14, Quận 6 đã chuyển giao cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Ngày 11/9/2019, Tô Thanh N đến Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đầu thú và khai: Khoảng 20 giờ ngày 08/9/2019, N đến tiệm game Tuấn Tú - số 25 đường TH, Phường N, Quận F chơi thì phát hiện trước quán cà phê M - số 27 đường TH, Phường N, Quận F có để 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 55P4-4833 mà không có người trông coi, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. Quan sát thấy Camera của tiệm game quay sang quán cà phê M, nên N đi ra lấy cái áo mưa màu xanh dương đang treo gần đó (lúc này trời đang mưa lớn) che mắt Camera lại rồi dắt bộ chiếc xe biển số 55P4-4833 đến bãi giữ xe của chung cư 78 đường THĐ, Phường N, Quận F gửi, sau đó quay về tiệm game Tuấn Tú tiếp tục chơi game. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, bà Trần Thị Thu H đi công việc về phát hiện mất xe và định báo Công an thì N nói với bà Hoàn đừng báo và hứa sẽ tìm lại chiếc xe cho bà Hoàn, nhưng đến ngày 11/9/2019, sau khi biết bà Hoàn đã báo Công an và cơ quan công an đã thu hồi chiếc xe thì N đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Tại Văn bản số: 1540/TCKH ngày 13 tháng 9 năm 2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 thống nhất giá như sau: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 55P4-4833 (mua xe đã qua sử dụng vào cuối năm 2014), có giá là: 5.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 135/CT-VKS-Q6 ngày 07 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát N dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Tô Thanh N về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Thanh N khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave A, màu đen (bị cáo không nhớ biển số) của bà Trần Thị Thu H để tại trước quán cà phê M - số 27 đường TH, Phường N, Quận F vào tối ngày 08/9/2019 như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát N dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Tô Thanh N như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, N thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Tô Thanh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Các bà Nguyễn Thị Th, Trần Thị Thu H không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ giữ xe số 074.

Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Tô Thanh N nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Tô Thanh N tại phiên tòa với Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera của Công an Quận 6; lời khai của các ông, bà Nguyễn Thị Th, Trần Thị Thu H, Hà Huỳnh T1 và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tô Thanh N đã lợi dụng sự sơ hở của bà Nguyễn Thị Th, lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 55P4-4833 trị giá 5.000.000 đồng để tại trước quán cà phê M - số 27 đường TH, Phường N, Quận F vào tối ngày 08/9/2019 (vào thời điểm bị cáo chiếm đoạt, chiếc xe này là tài sản thuộc quyền quản lý hợp pháp của bà Nguyễn Thị Th), là phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo Tô Thanh N không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng N dân.

Bị cáo Tô Thanh N là người đã trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Tô Thanh N đã hoàn thành, việc bị phát hiện và thu giữ lại tài sản là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi trả bị hại); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Sau sự việc xảy ra đã đến cơ quan công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Tô Thanh N còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại: Bà Trần Thị Thu H đã nhận lại tài sản là chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave A, màu đen, biển số 55P4-4833 (số khung Y-199249, số máy C12E-1400136) và không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường (theo Biên bản ghi lời khai ngày 01/10/2019 và Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 18/9/2019 - BL42, 98), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Việc xử lý vật chứng: 01 thẻ giữ xe số 074, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 105/PNK ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Công an Quận 6 - BL102)

Đối với 01 USB màu xanh (có dữ liệu ghi lại hình ảnh Tô Thanh N gửi chiếc xe gắn máy biển số 55P4-4833 tại bãi giữ xe của chung cư 78 đường Tân Hòa Đông vào ngày 08/9/2019), là tài sản hợp pháp của ông Hà Huỳnh T1, nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại ông T1 (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 31/10/2019 - BL100), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Bị cáo Tô Thanh N chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Tô Thanh N phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Tô Thanh N 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2019.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thẻ giữ xe số 074.

- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Tô Thanh N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Tô Thanh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ