vanban.org

Bản án 129/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2019. Buộc bị cáo Nguyễn Phước T nộp lại số tiền 600.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2019/HS-ST
Ngày 05 – 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

2. Ông Phạm Văn Chính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Phước T, sinh ngày 02/3/2000 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp T, xã TQ, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị C; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 09/5/2019. (có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1993; Địa chỉ: 23/5G ấp X, xã XT, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn D, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp H, xã HL, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 28/10/2018, K rủ C đi trộm cắp tài sản bán kiếm tiền tiêu xài, C đồng ý và rủ thêm T2, P cùng tham gia. K điều khiển xe gắn máy hiệu Cup 50 chở T2, H (K, T2, H không rõ lai lịch); P điều khiển xe gắn máy không rõ biển số do bị xịt sơn đen chở T, C đến khu vực xã Xuân Thới Đông tìm tài sản sơ hở để trộm. Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 29/10/2018, cả nhóm phát hiện 01 xe gắn máy hiệu Future, biển số 59E1-408.79 dựng tại dãy nhà trọ số 23/5G ấp X, xã XT, huyện Hóc Môn nên K đưa cho T 01 cây đoản và cùng C, H vào lấy trộm, còn P và T2 đứng ngoài cảnh giới. T dùng đoản mở ổ khóa xe nhưng do xe bị khóa xích bánh trước nên cùng K, C, H khiêng ra phía trước dùng búa đập vỡ ổ khóa dây xích và lấy xe tẩu thoát. K đưa xe trộm được gửi tại bãi giữ xe chung cư Hoàng Quân, sau đó cùng T đưa xe đến tiệm cầm đồ Đại Thống, xã Xuân Thới Thượng bán cho Phan Văn D số tiền 4.000.000 đồng, cả nhóm chia nhau tiêu xài hết. Ngày 30/10/2018, Công an xã Xuân Thới Đông tuần tra, phát hiện và mời T, P, C về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra T, P, C khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Ngoài ra, T, P, C còn khai nhận cùng K thực hiện 02 vụ trộm khác tại địa bàn huyện Hóc Môn, bán tài sản trộm được và chia nhau tiêu xài hết, cụ thể, vụ 1: trộm 02 xe gắn máy dùng để kéo thùng xe ba gác, bán cho tiệm ve chai 800.000 đồng; vụ 2: trộm 01 xe gắn máy hiệu Wave, bán cho Trần Văn T 2.500.000 đồng.

Vật chứng đang tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen, bên trong có sim số 086528632; 01 xe gắn máy màu đen không rõ biển số; 01 đầu đoản dùng để bẻ khóa; 01 khóa (khóa 8).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 239/2018 ngày 15/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Hóc Môn, xác định 01 xe gắn máy hiệu Honda Future F1, màu đỏ đen, biển số 59E1-408.79 là 14.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 124/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Phước T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy 01 đầu đoản dùng để bẻ khóa, 01 khóa (khóa 8); tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe gắn máy màu đen không rõ biển số; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen do không liên quan đến vụ án; buộc bị cáo nộp sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng do phạm tội mà có; Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Phước T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại gì. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Cụ thể: Khoảng 2 giờ 40 phút ngày 29/10/2018, T cùng P, C, K, T2, H đã lén lút lấy trộm của chị Nguyễn Thị X 01 xe gắn máy hiệu Honda Future F1, biển số 59E1-408.79, dựng tại dãy nhà trọ số 23/5G ấp X, xã XT, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh, có trị giá 14.000.000 đồng, bán được 4.000.000 đồng và chia nhau tiêu xài hết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Phước T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Bản cáo trạng số: 124/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Nguyễn Phước T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản để lén lút lấy trộm 01 xe gắn máy có trị giá 14.000.000 đồng, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vi phạm pháp luật hình sự, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, tạo dư luận xấu trong xã hội. Do đó, phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Do đó, cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên là có căn cứ chấp nhận.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự .

Từ những nhận định nêu trên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù là có cơ sở chấp nhận.

Đối với Lê Minh P, sinh ngày 18/3/2004 và Võ Lê Phi C, sinh ngày 17/6/2003: Do chưa đủ 16 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, Cơ quan điều tra không khởi tố là phù hợp quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự.

Đối với những người tên K, T2, H do không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với lời khai của bị cáo cùng K, C, P thực hiện 02 vụ trộm khác tại địa bàn huyện Hóc Môn: Cơ quan điều tra đã có thông báo tìm bị hại, khi có kết quả sẽ xử lý sau.

Đối với Phan Văn D: Khi mua xe không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, sau đó đã để mất xe, Cơ quan điều tra không thu hồi được và không khởi tố về hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

01 xe gắn máy hiệu Honda Future F1, màu đỏ đen, biển số 59E1-408.79, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Phước T, do không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

01 đầu đoản dùng để bẻ khóa xe; 01 khóa (khóa 8) là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 xe gắn máy không rõ biển số do bị xịt sơn đen có số khung VTMPCG0011K020365, số máy LC150FMG-01210365: P khai mua của K, được T sử dụng chở P, C đi trộm cắp tài sản. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo số khung, số máy. Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp. Vì vậy, giao chiếc xe này cho Chi cục thi hành án huyện Hóc Môn quản lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị X đề nghị được nhận lại tài sản khi tìm lại được, không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 600.000 đồng bị cáo được chia sau khi bán xe trộm được: Đây là số tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo nộp sung quỹ nhà nước.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2019.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Buộc bị cáo Nguyễn Phước T nộp lại số tiền 600.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: 01 đầu đoản dùng để bẻ khóa; 01 khóa (khóa 8).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phước T 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen, bên trong có sim số 086528632.

Giao 01 xe gắn máy có số khung VTMPCG0011K020365, số máy LC150FMG-01210365 cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn quản lý theo quy định của pháp luật. Nếu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn thông báo tìm kiếm chủ sở hữu, mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì sẽ được xem xét theo thủ tục tố tụng dân sự, nếu không có ai yêu cầu thì sung quỹ Nhà nước.

(Vật chứng của vụ án do Công an huyện Hóc Môn đang quản lý theo Lệnh nhập kho vật chứng số 119/LNK-CSĐT-HS ngày 03/4/2019 của Công an huyện Hóc Môn).

3. Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Phước T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật T2 hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ