vanban.org

Bản án 129/2017/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 13/07/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các đồng nguyên đơn; y án sơ thẩm.

Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án; 1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn: ông Phan Quốc C (do bà Đặng Thị H, đại diện người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng); bà Phan Thị Thanh C, bà Phan Thị Hồng H, bà Phan Thị H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Quóc C kiện Phan Văn B"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các đồng nguyên đơn; y án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 203 Luật Đất đai; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2017/DS-PT
Ngày 13 tháng 7 năm 2017
Vv Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Sáng

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Văn

Ông Phan Văn Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 293/2015/TLPT–DS ngày 18 tháng 11 năm 2015 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm: 04/2015/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 64/2016/QĐ-DS ngày 06 tháng 01 năm 2016, giữa các đương sự:

- Các nguyên đơn:

1/Ông Phan Quốch C (chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Bà

Đặng Thị H; (có mặt).

2/ Bà Phan Thị Thanh C (vắng mặt)

3/ Bà Phan Thị Hồng H (vắng mặt)

4/ Bà Phan Thị H Y (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T P 1, xã T T, huyện T L, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Phan Văn B; (có mặt)

Địa chỉ: 105 ấp Đ P, xã Đ M, huyện T L, thành phố Cần Thơ.

Đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Hồ Hoài B, sinh năm 1962 (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Phan Xuân P (vắng mặt)

Địa chỉ: 11A, Hercules Street, Fair Field East Nsw 2165 Australia

2/ Ông Phan Nhật L (vắng mặt)

Địa chỉ: 4744 Catalina Avela Veme, Ca 91750 USA.

- Người kháng cáo: Ông Phan Quốc C – nguyên đơn; ông Hồ Hoài B – đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

h đơn h i i n v n hai nguyên đơn ng han uốc C trình bày:

Trước đây ông nội của ông C là ông Phan Thiện K có đứng sổ bộ 20 công đất (tầm 2,8m) đất tọa lạc tại Ấp T P 1, xã T T, huyện T L, Tp. Cần Thơ. Lúc còn sống ông K có chia đều số đất trên cho 04 người con trai mỗi người 05 công đất: Phan Thành Y, Phan Thành T, Phan Văn Bả (cha ông Phan Văn B), Phan Văn C (cha ông Phan Quốc C). Sau khi chia xong (không có giấy tờ) thấy ông Bả nhà nghèo con đông nên ông Y, ông T và ông Phan Văn C thống nhất cho ông Bả mượn toàn bộ số đất nêu trên để ông Bả canh tác nuôi con. Canh tác được 10 năm (ông Y và ông T đã chết) ông Y và ông T có nhu cầu sử dụng nên ông Bả đã trả. Riêng phần 05 công đất của ông Phan Văn C là cha ông Phan Quốc C thì vẫn để cho ông Bả sử dụng đến cuối đời thì trả lại. Ông Bả thống nhất sau đó ông Bả giao lại cho con là ông Phan Văn B canh tác.

Sau khi ông Bả chết, ông B bao chiếm và lén đi đăng ký đứng tên QSDĐ và canh tác cho đến nay. Lời khai của ông B trong biên bản hòa giải ngày 12/11/2014 tại UBND xã T T đã thừa nhận là phần đất tranh chấp do cha ông là ông B mượn của cha ông C nhưng ông không đồng ý giao trả lại cho gia đình ông C. Hiện nay ông Phan Văn C đã chết năm 1994 và mẹ ông là bà Trần Ngọc S cũng chết năm 2010 không để lại di chúc. Ông và anh em ông là hàng thừa kế thứ nhất theo luật định nên nay yêu cầu buộc ông Phan Văn B giao trả lại diện tích 3.515m2 mà ông B đứng tên.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/6/2015, ông yêu cầu ông B trả toàn bộ diện tích thực canh khoảng 6.000m2 bao gồm 3.515m2 được cấp giấy và khoảng 2.000m2 chưa được cấp đồng thời được nhận số tiền đền bù do nhà nước quy hoạch khoảng 171 triệu đồng.

- Bị đơn rình y:

Phần đất thửa 327, tờ bản đồ số 9, GCNQSDĐ số CH01109, do UBND huyện T L cấp ngày 05/12/2013 do ông Phan Văn B đứng tên do ông Phan Văn Bả là cha ông B cầm cố vào năm 1970 sau đó ông B chuộc lại và canh tác cho đến nay. Đất đã canh tác trên 40 năm đã được cấp có thẩm quyền công nhận không tranh chấp, được cấp GCNQSDĐ vào năm 1993 và đã đổi giấy lần 2 vào ngày 05/12/2013. Do đó ông khẳng định giữa ông B và ông Phan Quốc C không có liên quan về tranh chấp đất, ranh giới, không có mượn đất hay mua bán đất, không nợ nần tiền bạc. Việc ông C khởi kiện là hành vi gây rối bôi nhọ danh dự ông và làm cản trở công trình quy hoạch đền bù của nhà nước. Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu ông C chấm dứt hành vi gây rối, bồi thường thiệt hại cho ông gồm:

1/ Tiền lãi của 171.874.080đ mà quỹ phát triển chưa trả cho ông.

2/ Hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 12/02/2015 của TAND thành phố Cần Thơ.

Tại biên bản hòa giải (BL 256-258) ngày 19/5/2015 thì ông Bắc cho rằng phần đất chưa được cấp giấy ông B canh tác, dư ra có thể do cán bộ địa chính không rõ đo đạc như thế nào, dư ra diện tích bao nhiêu không biết, khoảng 1.500m2. Năm 2013 không đo, chỉ cấp lại theo giấy cũ. Theo ông, lần 1 năm 1993 có thể hiện người đo người vẽ, lần 2 năm 2013 thì không thể hiện. Tổng diện dích khoảng 5000m2.

ng v ng

nh ng người

uyền ợi, nghĩa vụ iên uan: có văn bản không tranh chấp phần đất này được hợp pháp hóa lãnh sự.

Tại b n án hành chính sơ hẩm số 04/2015/HC-ST ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố Cần hơ đã uyế định:

Bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn có đại diện là ông Phan Quốc C đối với ông Phan Văn B về việc đòi quyền sử dụng đất diện tích 5.281,6m2 và 619,5m2 đã bị nhà nước thu hồi theo quy hoạch tại quyết định số 1613/QĐ-UBND huyện T L, thành phố Cần Thơ ngày 14/5/2015 (kèm trích đo địa chính số 22 ngày 24/7/2015).

Công nhận ông Phan Văn B được sử dụng diện tích đất là 3.515m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01109, do UBND huyện T L cấp ngày 05/12/2013 thửa 327, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại ấp T P 1, xã T T, huyện T L, thành phố Cần Thơ, phần diện tích đất 1.766,6m2 cùng thửa 327, tờ bản đồ số 09 chưa được cấp giấy tạm thời giao cho ông Phan Văn B tiếp tục sử dụng và ông B có trách nhiệm đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất phần chưa được cấp giấy theo quy định của pháp luật.

Hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/QĐ-BPBĐ ngày 12/02/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Đại diện nguyên đơn ông Phan Quốc C được nhận lại số tiền đã tạm nộp 15.000.000 đồng mà nguyên đơn tạm nộp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Ô M về việc đảm bảo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01 ngày 12/02/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ khi án có hiệu lực pháp luật.

Bác yêu cầu của nguyên đơn về việc được nhận số tiền đền bù do nhà nước quy hoạch 171.874.080 đồng.

Công nhận số tiền đền bù nói trên là của ông Phan Văn B. Ông B tự liên hệ các cơ quan chức năng để nhận số tiền này khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ hẩm, ngày 13/10/2015, đại di n các nguyên đơn ng han Quố C m đơn háng á

n ộ b n án sơ hẩm. Ngày 29 tháng 10 năm 2015, ông C chế . Người kế thừa quyền v nghĩa vụ tố tụng của ông C, gi nguyên yêu cầu háng á h đơn háng á .

Ng y 14/10/2015 đại di n theo ủy quyền của bị đơn m đơn háng á một phần b n án sơ hẩm về kho n yêu cầu nguyên đơn ồi hường thi t hại do quyết định khẩn cấp tạm thời không chi tr số tiền bồi hường.

Tại phiên tòa:

Đại diện các nguyên đơn và bị đơn giữ yêu cầu kháng cáo theo đơn kháng cáo trình bày trên.

Căn ứ các tài li u có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên ơ s x m xé đầy đủ, toàn di n ý kiến tranh luận của á ên đương s , ý kiến của Đại di n Vi n Kiểm sát;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Phần đất lúa tranh chấp (đo dạc thực tế là 5.258m2) thuộc thửa 327, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại ấp T P 1, xã T T, huyện T L, thành phố Cần Thơ hiện do hộ ông Phan Văn B quản lý, sử dụng. Năm 1993, hộ ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 3.515m2, ngày 05/12/2013, UBND huyện T L cấp đổi lại lần hai; phần diện tích còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2014, do quy hoạch mở đường nên UBND huyện T L thu hồi 619,5m2 đất (bồi thường số tiền 171.874.080 đồng) thuộc thửa 327 nêu trên, ghi tên người được bồi thường là ông Phan Văn B và ông Phan Quốc C; UBND huyện T L thay đổi người được bồi thường số tiền nêu trên là ông Phan Văn B (Quyết định 1613/QĐ – UB ngày 14/5/2015), các đồng nguyên đơn khởi kiện tranh chấp thửa đất nêu trên, trong đó có khoản tiền được bồi thường.

[2] Các đồng nguyên đơn kháng cáo nêu rằng nguồn gốc đất tranh chấp nêu trên là của cụ Phan Thiện K (ông nội của ông C và ông B) đã chia cho các con ông K, trong đó có ông Phan Văn Bả (cha của ông Phan Văn B) và ông Phan Văn C (cha của ông Phan Quốc C và các đồng nguyên đơn) mỗi người 05 công đất. Việc phân chia đất theo lời khai của các nguyên đơn, không có giấy tờ, tài liệu gì để chứng minh. Lời khai của những người làm chứng khai, có biết việc phân chia trong quá trình sử dụng đất; tuy nhiên, ông Phan Văn C (chết 1994) không có giấy tờ gì để chứng minh gia đình ông Bả có việc mượn đất đã phân chia để sử dụng đất. Ông Phan Văn Bả đã sử dụng đất từ trước năm 1975, sau 1975, ông B tiếp tục sử dụng cho đến năm 1993, UBND huyện Ô M (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (không ghi ngày tháng, người ký cấp), năm 2013, UBND huyện T L xét cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3.515m2 đất.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất năm 1993 và cấp đổi năm 2013 nhưng cơ quan có thẩm quyền (Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất – UBND huyện T L và Trung tâm Công nghệ thông tin lưu trữ thuộc Sở Tài nguyên môi trường thành phố Cần Thơ) đều không có hồ sơ lưu trữ nên Tòa án cấp sơ thẩm không có cơ sở để xem xét quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, với các tài liệu mà Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập nêu trên, tại phiên tòa phúc thẩm, các nguyên đơn kháng cáo cũng không cung cấp tài liệu gì mới nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn tranh chấp phần đất 6.281,6m2 do hộ ông Bé đang quản lý, sử dụng, trong đó phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.515m2 (có 619,5m2 đã bị thu hồi và bồi thường 171.874.080 đồng). Phần đất đã được UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, hộ ông B có quyền sử dụng đất theo pháp luật về đất đai hiện hành.

[4] Phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ ông B tiếp tục quản lý sử dụng cho đến khi cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích cụ thể 1.766,6 m2 là chưa đảm bảo số liệu chính xác khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó, không thể ghi trước số liệu cụ thể nêu trên tại phần quyết định của bản án sơ thẩm sẽ không đảm bảo số liệu khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.

[5] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn là yêu cầu các nguyên đơn phải bồi thường thiệt hại và tính lãi của số tiền 171.874.080 đồng do không nhận được tiền bồi thường. Về yêu cầu này, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét theo thủ tục sơ thẩm, nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể xem xét kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, ông B có quyền khởi kiện lại vụ án khác nếu có yêu cầu. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm dân sự cho ông B theo phiếu thu.

[6] Phần hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[7] Các nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm dân sự theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự (năm 2015);

Không chấp nhận kháng cáo của các đồng nguyên đơn; y án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 203 Luật Đất đai (năm 2013);

Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn: ông Phan Quốc C (do bà Đặng Thị H, đại diện người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng); bà Phan Thị Thanh C, bà Phan Thị Hồng H, bà Phan Thị H Y đối với ông Phan Văn B tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 5.281,6m2 thuộc thửa 327, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp T P 1, xã T T, huyện T L, thành phố Cần Thơ (có 3.515m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số tiền đền bù giá trị quyền sử dụng đất 619,5m2 do nhà nước quy hoạch là 171.874.080 đồng. Hộ ông Phan Văn B tự liên hệ với cơ quan có chức năng để nhận số tiền này).

2/ Phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất nêu trên, hộ ông Phan Văn B tiếp tục tạm quản lý sử dụng cho đến khi cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về đất đai.

3/ Giữ nguyên phần Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo bản án sơ thẩm.

4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5/ Nguyên đơn phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm dân sự, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu số 000865 ngày 13/10/2015 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

6/ Hoàn lại 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm cho ông Phan Văn B theo phiếu thu số 000880 ngày 21/10/2015 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ