vanban.org

Bản án 1289/2019/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/10/2019 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Quốc N-Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 157 Luật Tố tụng hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! !!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc!
Bản án số: 1289/2019/HC-ST
Ngày: 02-10-2019
V/v Khiếu kiện quyết định hành

chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Vũ Bảo Nguyên.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

2. Bà Lê Thị Nhung

-"Thư ký phiên tòa:"Bà Bùi Thái Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

-"Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Tôn Mạnh Hùng–Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10, 26 tháng 9 và ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại Phòng xử

án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ

án hành chính thụ lý số 437/2017/TLST- HC ngày 08 tháng 11 năm 2017 về việc

“Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3476/2019/QĐXXST-HC ngày 01

tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6350/2019/QĐST-HC ngày

16 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1.Người khởi kiện: Ông Lê Quốc N.

Địa chỉ: 53 Nguyễn Trãi, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"ông"Lê"Quốc"N:"

Ông Trịnh Duy T.

Địa chỉ: 13/13 đường 36, phường Q, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"ông"Lê"Quốc"N:"

Ông Phan Văn H– Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố (thuộc Sở Tài

nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh).

Tên giao dịch: Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố.

Địa chỉ : 12 Phan Đăng Lưu, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai"

Thành"phố:""

Ông Nguyễn Đức V- Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai

Quận N.

Địa chỉ: 203 An Dương Vương, Phường A, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.!Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan:!

Bà: Ngô Thị H.

Địa chỉ: 53 Nguyễn Trãi, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"bà"Ngô"Thị"H:"

Ông Trịnh Duy T.

Địa chỉ: 13/13 đường 36, phường Q, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

*Người" khởi" kiện:" Ông" Lê" Quốc" N" có"người"đại"diện"theo"ủy"quyền"là"ông"

Trịnh"Duy"T.""

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 29/9/2017 và 16/10/2017 cùng các tài liệu, chứng

cứ Tòa án đã thu thập và tại phiên tòa ông T trình bày:

Căn nhà số 53 Nguyễn Trãi, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh

(nhà số 53 Nguyễn Trãi) có nguồn gốc do bà Hồ Thị N, ông Nguyễn Văn N mua cho 04 người con vị thành niên gồm: Nguyễn Xuân H, Nguyễn Công C, Nguyễn Thị Xuân K và Nguyễn Liên C vào năm 1964.

Năm 1973, ba người con là H, C, K trưởng thành và đã ủy quyền sở hữu ¾

căn nhà của họ cho ông N, bà N và xuất cảnh. Cuối năm 1979, bà N cho bà Trần Thị H thuê lại 40m2 nhà làm chỗ ở, giá thuê là 20 đồng/tháng, thời hạn thuê là 5 năm, hạn cuối hợp đồng là ngày 31/12/1984.

Ngày 08/10/1983 ông N, bà N làm chúc ngôn cho đứt ¾ căn nhà cho con là

Nguyễn Liên C. Năm 1985, ông N qua đời, ngày 29/6/1987 bà N làm giấy cho đứt cho bà C phần của mình được các con ủy quyền cùng chồng.

Năm 1989, Sở nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh đã cấp Giấy phép mua bán,

chuyển dịch nhà số 978/GP-MBN cho phép bà N chuyển dịch quyền sở hữu ¾ nhà số 53 Nguyễn Trãi cho bà C.

Do bà H không trả lại nhà nên bà C đã khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bà H

trả nhà. Bản án dân sự phúc thẩm số 171/DSPT ngày 26/3/1991 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết luận buộc vợ chồng bà Trần Thị H trả lại toàn bộ phần thuê trong nhà số 53 Nguyễn Trãi cho bà C.

Ngày 15/3/2001, bà C đã lập hợp đồng (không công chứng, chứng thực)

bán nhà số 53 Nguyễn Trãi cho ông Nguyễn Văn S. Việc mua bán đã thực hiện xong, ông S đã nhận nhà và sử dụng. Để hợp thức hóa việc mua bán nhà, ngày 03/01/2002 bà C lập ủy quyền tại Phòng công chứng số 3 cho ông S được quyền sử dụng, định đoạt toàn bộ nhà đất trên (thời hạn ủy quyền 10 năm).

Ngày 31/7/2001, ông S lập Hợp đồng đặt cọc nhận 700 lượng vàng SJC và

lập biên bản giao nhà số 53 Nguyễn Trãi cho vợ chồng ông Lê Quốc N, bà Ngô

Thị H quản lý, sử dụng.

Ngày 06/01/2002, ông S và vợ là bà Võ Thanh T lập Hợp đồng bán nhà số

53 Nguyễn Trãi cho vợ chồng ông N, bà H với nội dung: bán nhà và diện tích

đất 629m2 với giá 2.200 lượng vàng SJC. Bên mua đã nhận tiền là 700 lượng

(tiền đặt cọc) và 300 lượng (tiền thanh toán). Tổng cộng qua 4 lần đặt cọc và

thanh toán ông S và bà T đã nhận 1.265,6 lượng vàng SJC và đã giao nhận toàn

bộ nhà đất cho vợ chồng ông N, bà H quản lý, sử dụng cho đến nay.

Sau khi ông S chết, ngày 25/11/2006, bà T và các đồng thừa kế của ông S

đã cùng vợ chồng ông N, bà H ký Phụ lục hợp đồng, hai bên đồng ý kéo dài thời

gian thực hiện hợp đồng mua bán nhà đất đến hết tháng 12/2009. Nếu vẫn không

thực hiện xong thì một trong hai bên được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo

quy định.

Tại Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số

134/2016/QĐDS-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận N đã quyết định

vợ chồng ông Lê Quốc N, bà Ngô Thị H được sở hữu tài sản và được lập hồ sơ

xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Ông N, bà H tiến hành nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng

nhận) theo quy định. Tuy nhiên, ngày 22/2/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N

(viết tắt Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N) có văn bản số 558/VPĐK.CNQ5 hoàn

trả hồ sơ, không cấp Giấy chứng nhận cho vợ chồng ông N.

Căn cứ nhận định tại Bản án dân sự phúc thẩm số 171/DSPT ngày

26/3/1991, Văn tự nhượng và thụ nhượng ngày 30/9/1983, Tờ chúc ngôn ngày

08/10/1983, Giấy phép mua bán chuyển dịch nhà số 978/GP-MBN ngày

22/6/1989 có cơ sở xác định bà C có đủ tư cách để định đoạt căn nhà này.

Việc bà C lập hợp đồng bán nhà số 53 Nguyễn Trãi cho ông Nguyễn Văn S

vào ngày 15/3/2001 là hoàn toàn tự nguyện và thể hiện ý chí của chủ sở hữu.

Ngày 31/7/2001 và ngày 06/01/2002, ông Nguyễn Văn S và vợ là bà Võ Thanh

T lập Hợp đồng bán nhà số 53 Nguyễn Trãi cho vợ chồng ông N, bà H. Thời

điểm này ủy quyền giữa bà C và ông S còn hiệu lực pháp luật. Mặc dù, các văn

bản chuyển nhượng giữa bà Liên C cho ông S và giữa vợ chồng ông S cho ông

N, bà H không được công chứng chứng thực nhưng đó chỉ là vi phạm về mặt

hình thức.

Hợp đồng mua bán nhà giữa 2 bên thể hiện đầy đủ ý chí tự nguyện và đã

thực hiện xong (giao nhà, trả đủ tiền) nên đủ điều kiện để công nhận theo quy định tại Nghị quyết số 01/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Văn bản số 558/VPĐK.CN5 ngày 22/2/2017 của Chi nhánh VPĐKĐĐ

Quận N viện dẫn các văn bản số 5126 ngày 19/11/1989, số 3632 ngày 10/8/1990 của Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hồ Chí Minh và văn bản số 2308 ngày 30/6/1997 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về “tạm thời giữ nguyên tình trạng pháp lý về sở hữu căn nhà trên, chờ chủ trường của Chính phủ” là trái với quy định của pháp luật.

Mặt khác, Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số

134/2016/ QĐ DS-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận N (đã căn cứ vào các tài liệu, hồ sơ thể hiện nguồn gốc và quá trình sử dụng nhà số 53 Nguyễn Trãi) và căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 171/DSPT ngày 26/3/1991 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật, bắt buộc cá nhân, tổ chức tôn trọng thi hành.

Việc xác lập quyền sở hữu nhà của bà Cvà chuyển nhượng từ bà Csang cho

ông S, ông N là phù hợp với quy định của pháp luật. Ông N, bà Hcó đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà số 53 Nguyễn Trãi.

Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố không thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng

nhận cho vợ chồng ông N và Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N ban hành Công văn số 558/VPĐK.CNQ5 ngày 22/02/2017 trả lời hoàn trả hồ sơ là trái với các quy định của pháp luật.

Vì vậy ông N yêu cầu Tòa án hủy Công văn số 558/VPĐK.CNQ5 ngày

22/02/2017 của Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N, buộc Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố, nhận lại hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho ông N, bà Htheo Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 134/2016/QĐDS-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận N.

*Người"bị"kiện:"Văn"phòng"ĐKĐĐ""Thành"phố"vắng"mặt.""

Tại văn bản số 1511/VPĐK-KTTT ngày 25/01/2018 “V/v đơn khởi kiện

của ông Lê Quốc N” của Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố có nội dung:

Đây là trường hợp cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận lần đầu, thuộc

thẩm quyền xem xét, giải quyết của UBND Quận N (theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật đất đai năm 2013).

Do Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố không thụ lý, giải quyết cấp Giấy chứng

nhận của ông Lê Quốc N và bà Ngô Thị H nên đã có công văn số 18709/VPĐK-KTTT ngày 04/12/2017 chuyển Thông báo thụ lý vụ án số 437/TB-TLVA ghi ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố để Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N có ý kiến về nội dung yêu cầu của người khởi kiện, cử người tham gia tố tụng, cung cấp hồ sơ cho Tòa án.

Ngày 04/01/2018, Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố nhận được công văn số

5234/VPĐK-CNQ5 ngày 26/12/2017 của Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N về việc

phúc đáp công văn số 13465/PC-VPĐK-KTTT ngày 07/9/2017 của Văn phòng

ĐKĐĐ Thành phố.

Đối với trường hợp từ chối giải quyết cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho cá

nhân Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 8795/TNMT-VPĐK ngày

09/11/2015 về việc phối hợp trong công tác đăng ký, cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa

bàn thành phố.

Vì lý do khách quan, người bị kiện không thể trực tiếp tham gia các giai

đoạn tố tụng, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thủ

tục hành chính sơ thẩm vắng mặt người bị kiện ở tất cả các giai đoạn.

Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố cử ông Nguyễn Đức V - Giám đốc Chi

nhánh VPĐKĐĐ Quận N làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người

bị kiện tham gia tố tụng theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Công văn số

4012/UBND-NCPC ngày 27/7/2016.

Người bị kiện không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

*Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"bà"Ngô"Thị"H"có"người"đại"diện"

theo"ủy"quyền"là"ông"Trịnh"Duy"T"trình"bày:"

Bà H thống nhất với nội dung khởi kiện của ông Lê Quốc N và đề nghị quý

Tòa án nhân dân xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc N.

Tại!phiên!tòa!sơ!thẩm:!

Ông"Lê"Quốc"N"và"bà"Ngô"Thị"H"có"ông"Trịnh"Duy"T"đại"diện"và"Luật"sư"

Phan"Văn"H"có"ý"kiến:"

Ông N xin cấp Giấy chứng nhận thuộc trường hợp cấp theo bản án, quyết

định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, thành phần hồ sơ đã đầy đủ và hợp pháp

nên có cơ sở chấp nhận. Về phía Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N đã không cung

cấp được bất kỳ tài liệu nào để chứng minh cho việc trả hồ sơ là hợp pháp dù đã

được Tòa án thông báo, yêu cầu nhiều lần, Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N viện

dẫn các văn bản không có thật để trả hồ sơ là hành vi trái pháp luật.

Nay xác định rõ yêu cầu khởi kiện:

-Yêu cầu Tòa án hủy văn bản số 558/VPĐK.CNQ5 ngày 22/02/2017 của

Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N vì ban hành trái pháp luật.

-Buộc Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố (Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N) thực

hiện việc cấp Giấy chứng nhận cho ông N, bà Htheo Quyết định Công nhận sự

thỏa thuận của các đương sự số 134/2016/QĐDS-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án

nhân dân Quận N.

*Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện"là"ông"Nguyễn"

Đức"V"vắng"mặt."

Sau khi Tòa án mở phiên tòa ngày 16/8/2019 thì nhận được Văn bản số

5061/VPĐK.CNQ5-HC ngày 14/8/2019 “Về việc cung cấp thông tin và xin

vắng mặt xét xử sơ thẩm vụ án hành chính đối với nhà 53 Nguyễn Trãi, Phường H, Quận N” của ông Nguyễn Đức V-Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N, văn bản có nội dung:

Đây là trường hợp cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận lần đầu thuộc

thẩm quyền xem xét giải quyết của UBND Quận N (theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai 2013).

Qua xem xét hồ sơ lưu trữ của nhà số 53 Nguyễn Trãi, nhận thấy:

Ngày 19/11/1989, UBND Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 5126/UB-

ND về việc xem xét lại hồ sơ mua bán nhà số 53 Nguyễn Trãi có nội dung: “Nay" Ủy" ban" nhân" dân" Thành" phố" thu" hồi" văn" bản" số" 4338/UB-ND" ngày" 03/10/1989,"đình"chỉ"việc"mua"bán"nhà"và"yêu"cầu"Giám"đốc"Sở"Nhà"đất"nắm"lại" toàn"bộ"chủ"quyền"nhà"nói"trên,"kết"luận"của"Tòa"án"nhân"dân"Tối"cao"về"việc" đòi"nhà"cho"thuê"và"có"ý"kiến"đề"xuất"Thường"trực"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố" xử"lý"đúng"theo"chính"sách"quy"định.”"(Đính kèm văn bản).

Ngày 10/8/1990, UBND Thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 3632/UB-

ND về việc xử lý nhà 53 Nguyễn Trãi, Phường H, Quận N có nội dung: “Ngày" 24/01/1999,"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"có"văn"bản"số"384/UB-ND"cho"phép" hộ"ông"Tất"Tiến"N"tạm"giữ"nguyên"trạng"sử"dụng"trong"khi"chờ"xác"định"cụ"thể" chủ"quyền"nhà"53"Nguyễn"Trãi,"Quận"N."Cho"đến"nay"Sở"Nhà"đất"chưa"báo"cáo" trình"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"để"xét"xử"về"chủ"quyền"nhà"nói"trên,"do"đó"Ủy" ban"nhân"dân"Thành"phố"chưa"công"nhận"quyền"sở"hữu"của"bà"Nguyễn"Liên"C" đối"với"căn"nhà"này."Vì"lý"do"nêu"trên,"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"đề"nghị"Tòa" án"nhân"dân"Thành"phố"tạm"ngưng"việc"xét"xử"vụ"kiện"đòi"nhà"cho"thuê"của"bà" Nguyễn"Liên"C."Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"yêu"cầu"Giám"đốc"Sở"Nhà"đất"sớm" kết"thúc"việc"điều"tra"giám"định"giấy"ủy"quyển"lập"dưới"chế"độ"cũ"báo"cáo"trình" Thường"trực"Ủy"ban"nhân"dân"Thành"phố"giải"quyết"chính"thức"về"quyền"sở"hữu" căn"nhà"53"đường"Nguyễn"Trãi,"Quận"N"để"giao"Tòa"án"nhân"dân"Thành"phố" xét"xử"theo"luật"định.”"

Ngày 30/6/1997, UBND Thành phố có văn bản số 2308/UB-QLĐT về việc

xử lý nhà số 53 Nguyễn Trãi có nội dung: “Giao"cho"Sở"Nhà"đất"trả"lời"đơn"xin" hợp" thức" hóa" sở" hữu" nhà" của" bà" Nguyễn" Liên" C," tạm" thời" giữ" nguyên" trạng" pháp"lý"về"sở"hữu"căn"nhà"trên,"chờ"chủ"trương"của"Chính"phủ”."

Từ những quy định trên, đề nghị Tòa án lưu ý khi xét xử vụ kiện hành

chính đối với nhà số 53 Nguyễn Trãi.

*Đại" diện" Viện" Kiểm" sát" nhân" dân" Thành" phố" Hồ" Chí" Minh" tham" gia"

phiên"tòa"phát"biểu"ý"kiến:""

-Về thủ tục tố tụng:

Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, tiến hành đầy đủ các

hoạt động tố tụng, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đầy đủ

các quyền và nghĩa vụ của mình."

-Về nội dung:

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho cá nhân thuộc về UBND

Quận N, do vậy đề nghị bác yêu cầu của ông N về việc yêu cầu tuyên bố hành vi

không cấp Giấy chứng nhận của Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố là trái pháp luật,

bác yêu cầu buộc Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố thực hiện cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất của ông Lê Quốc N.

Hủy Công văn số 558/VPĐK.CNQ5 ngày 22/02/2017 của Chi nhánh

VPĐKĐĐ Quận N. Buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N tiếp nhận lại hồ sơ để

trình UBND Quận N giải quyết và trả kết quả theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Sau"khi"nghiên"cứu"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"được"thẩm"tra"tại"

phiên"tòa;"Căn"cứ"kết"quả"tranh"luận"tại"phiên"tòa;"Xét"đề"nghị"của"Đại"diện"Viện"

Kiểm"sát,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định:"

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Lê Quốc N khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy văn bản số 558/VPĐK.CNQ5

ngày 22/02/2017 “V/v hoàn trả hồ sơ” của Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N và buộc

Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố (cụ thể là Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N) nhận lại

hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liên với đất cho ông

N, bà H. Xét thấy, đây là việc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành

chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai, là loại việc được quy định tại

Điều 3, Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.

"

Tại" Điều" 5" Nghị" định" số" 43/NĐ-CP" ngày" 15/5/2014" của" Chính" phủ" về"

“Quy"định"chi"tiết"thi"hành"một"số"điều"của"Luật"Đất"đai”"(viết"tắt"Nghị"định"số"

43/NĐ-CP"ngày"15/5/2014)"có"quy"định:""

“1."Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai:"

"

a)"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai"là"đơn"vị"sự"nghiệp"công"trực"thuộc"Sở"Tài"

nguyên"và"Môi"trường"do"Ủy"ban"nhân"dân"cấp"tỉnh"thành"lập"hoặc"tổ"chức"lại"

trên"cơ"sở"hợp"nhất"Văn"phòng"đăng"ký"quyền"sử"dụng"đất"trực"thuộc"Sở"Tài"

nguyên"và"Môi"trường"và"các"Văn"phòng"đăng"ký"quyền"sử"dụng"đất"trực"thuộc"

Phòng"Tài"nguyên"và"Môi"trường"hiện"có"ở"địa"phương;"có"tư"cách"pháp"nhân,"

có"trụ"sở,"con"dấu"riêng"và"được"mở"tài"khoản"để"hoạt"động"theo"quy"định"của"

pháp"luật…"

b)"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai"có"chi"nhánh"tại"các"quận,"huyện,"thị"xã,"

thành" phố" thuộc" tỉnh." Chi" nhánh" Văn" phòng" đăng" ký" đất" đai" được" thực" hiện"

chức"năng,"nhiệm"vụ"và"quyền"hạn"của"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai"theo"quyết"

định"của"Ủy"ban"nhân"dân"cấp"tỉnh;”"

Tại Điều 1 Quyết định số 2602/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của UBND

Thành phố Hồ Chí Minh “Về Thành lập Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố trực

thuộc Sở tài nguyên và Môi trường” có quy định:

“Văn"phòng"ĐKĐĐ"Thành"phố"là"đơn"vị"sự"nghiệp"công"lập"trực"thuộc"Sở"

Tài"nguyên"và"Môi"trường,"có"tư"cách"pháp"nhân,"có"con"dấu"và"được"mở"tài"

khoản"tại"Kho"bạc"Nhà"nước"và"ngân"hàng"theo"quy"định."

1."Tên"giao"dịch:"Văn"phòng"ĐKĐĐ"Thành"phố."

3." Chức" năng:" Văn" phòng" ĐKĐĐ" Thành" phố" có" chức" năng" thực" hiện"

đăng"ký"đất"đai"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất;"xây"dựng,"quản"lý,"cập"nhật," chỉnh"lý"thống"nhất"hồ"sơ"địa"chính"và"cơ"sở"dữ"liệu"đất"đai;"thống"kê,"kiểm"kê" đất"đai;"cung"cấp"thông"tin"đất"đai"theo"quy"định"cho"các"tổ"chức,"cá"nhân"theo" quy"định"hiện"hành"của"pháp"luật."

4."Nhiệm"vụ"và"quyền"hạn"như"sau:"…"

-Thực"hiện"các"thủ"tục"về"cấp"lần"đầu,"cấp"đổi,"cấp"lại"Giấy"chứng"nhận"

quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở;…"

-Thực" hiện" các" nhiệm" vụ" khác" liên" quan" đến" đăng" ký," cấp" Giấy" chứng"

nhận"do"Giám"đốc"Sở"Tài"nguyên"và"Môi"trường"giao.”"

Như vậy, người bị kiện trong vụ án là Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố, căn

cứ Điều 32 Luật Tố tụng hành chính vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Người bị kiện đã có các văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn Đức V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, theo quy định tại Điều 157 Luật Tố tụng hành chính Tòa án xét xử vắng mặt người bị kiện và ông V.

[3] Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 22/2/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N ban hành văn bản số

558/VPĐK.CNQ5 “V/v hoàn trả hồ sơ”, đến ngày 16/10/2017 ông N nộp đơn khởi kiện, căn cứ quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, việc khởi kiện của ông N còn trong thời hiệu khởi kiện.

[4].Về yêu cầu khởi kiện của ông N:

[4.1].Ngày 16/01/2017, ông N nộp đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N, kèm theo hồ sơ là Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 134/2016/QĐ D-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận N (có nội dung công nhận hợp đồng mua bán nhà số 53 Nguyễn Trãi giữa gia đình ông Svới ông N, bà H; Ông N và bà H được quyền sở hữu nhà số 53 Nguyễn Trãi và được quyền liên hệ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập thủ tục đứng tên sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật), Bản vẽ sơ đồ nhà ở-đất ở do Công ty TNHH Tư vấn-Thiết kế-Xây dựng-Đo đạc Cát Tường lập ngày 02/12/2016 (được Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N duyệt số 535/CN.VPĐKĐĐ.Q5 ngày 30/12/2016), Bản án dân sự phúc thẩm số 171/DSPT ngày 26/3/1991 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Văn tự nhượng và thụ nhượng ngày 30/9/1983, Tờ chúc ngôn ngày 8/10/1983, Giấy phép mua bán chuyển dịch nhà số 978 ngày 22/6/1989, Hợp đồng mua bán nhà số 53 Nguyễn Trãi cùng các tài liệu khác có liên quan theo quy định.

Sau khi kiểm tra hồ sơ, Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N đã ban hành văn

bản số 558/VPĐK.CNQ5 “V/v hoàn trả hồ sơ” ngày 22/02/2017 xác định không

thể tham mưu cấp Giấy chứng nhận đối với nhà 53 đường Nguyễn Trãi theo yêu

cầu của ông N, đề nghị ông N nhận lại hồ sơ.

Vì căn cứ vào các văn bản sau của UBND Thành phố Hồ Chí Minh:

-Văn bản số 5126/UB-ND ngày 19/11/1989 về việc xem xét lại hồ sơ mua

bán nhà số 53 Nguyễn Trãi ;

-Văn bản số 3632/UB-ND ngày 10/8/1990 về việc xử lý nhà 53 Nguyễn

Trãi, Phường H, Quận N;

-Văn bản số 2308/UB-QLĐT ngày 30/6/1997 về việc xử lý nhà 53 Nguyễn

Trãi, Phường H, Quận N;

Tuy nhiên, Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố và ông Nguyễn Đức Vinh chỉ

cung cấp bản phô tô văn bản số 5126/UB-ND ngày 19/11/1989, không cung cấp

được cho Tòa án bản chính hoặc bản sao (có sao y, thị thực giống bản chính)

các tài liệu để Tòa án xem. Cũng không đưa ra bất kỳ chứng cứ nào chứng minh

hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận của ông N là có thiếu sót theo quy định của

pháp luật mà buộc phải bổ sung, làm rõ.!

[4.2].Pháp luật quy định:

-Khoản 3 Điều 100 Luật đất đai quy định:

“Hộ"gia"đình,"cá"nhân"được"sử"dụng"đất"theo"bản"án"hoặc"quyết"định"của"

Tòa"án"nhân"dân,"quyết"định"thi"hành"án"của"cơ"quan"thi"hành"án,"văn"bản"công"

nhận"kết"quả"hòa"giải"thành,"quyết"định"giải"quyết"tranh"chấp,"khiếu"nại,"tố"cáo"

về"đất"đai"của"cơ"quan"nhà"nước"có"thẩm"quyền"đã"được"thi"hành"thì"được"cấp"

Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"

liền"với"đất;"trường"hợp"chưa"thực"hiện"nghĩa"vụ"tài"chính"thì"phải"thực"hiện"

theo"quy"định"của"pháp"luật."

-Điểm b khoản 2 Điều 37 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy

định:""

“" b)" Ủy" ban"nhân" dân" cấp"huyện" cấp" Giấy" chứng" nhận"quyền"sử"dụng"

đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"cho"hộ"gia"đình,"cá"

nhân,"cộng"đồng"dân"cư,"người"Việt"Nam"định"cư"ở"nước"ngoài"được"sở"hữu"nhà"

ở"gắn"liền"với"quyền"sử"dụng"đất"ở"tại"Việt"Nam.”"

-"Điều"70"Nghị"định"43/2014/NĐ-CP"ngày"15/5/2014"quy"định:"

“1.Người"sử"dụng"đất"nộp"01"bộ"hồ"sơ"theo"quy"định"để"làm"thủ"tục"đăng"

ký."

3."Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai"thực"hiện"các"công"việc"như"sau:"

a)"Trường"hợp"hộ"gia"đình,"cá"nhân,"cộng"đồng"dân"cư"nộp"hồ"sơ"tại"Văn"

phòng"đăng"ký"đất"đai"thì"gửi"hồ"sơ"đến"Ủy"ban"nhân"dân"cấp"xã"để"lấy"ý"kiến"

xác"nhận"và"công"khai"kết"quả"theo"quy"định"tại"Khoản"2"Điều"này;"

b)"Trích"lục"bản"đồ"địa"chính"hoặc"trích"đo"địa"chính"thửa"đất"ở"nơi"chưa"

có"bản"đồ"địa"chính"hoặc"đã"có"bản"đồ"địa"chính"nhưng"hiện"trạng"ranh"giới"sử"

dụng"đất"đã"thay"đổi"hoặc"kiểm"tra"bản"trích"đo"địa"chính"thửa"đất"do"người"sử"

dụng"đất"nộp"(nếu"có);"

c)"Kiểm"tra,"xác"nhận"sơ"đồ"tài"sản"gắn"liền"với"đất"đối"với"tổ"chức"trong"

nước,"cơ"sở"tôn"giáo,"tổ"chức"nước"ngoài,"cá"nhân"nước"ngoài,"người"Việt"Nam" định"cư"ở"nước"ngoài"thực"hiện"dự"án"đầu"tư"mà"sơ"đồ"đó"chưa"có"xác"nhận"của" tổ"chức"có"tư"cách"pháp"nhân"về"hoạt"động"xây"dựng"hoặc"hoạt"động"đo"đạc"bản" đồ;"

d)"Kiểm"tra"hồ"sơ"đăng"ký;"xác"minh"thực"địa"trong"trường"hợp"cần"thiết;"

xác"nhận"đủ"điều"kiện"hay"không"đủ"điều"kiện"được"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền" sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"vào"đơn"đăng" ký;"

đ)"Trường"hợp"chủ"sở"hữu"tài"sản"gắn"liền"với"đất"không"có"giấy"tờ"hoặc"

hiện"trạng"tài"sản"có"thay"đổi"so"với"giấy"tờ"quy"định"tại"các"Điều"31,"32,"33"và" 34"của"Nghị"định"này"thì"gửi"phiếu"lấy"ý"kiến"cơ"quan"quản"lý"nhà"nước"đối"với" loại"tài"sản"đó."Trong"thời"hạn"không"quá"05"ngày"làm"việc,"cơ"quan"quản"lý" nhà"nước"đối"với"tài"sản"gắn"liền"với"đất"có"trách"nhiệm"trả"lời"bằng"văn"bản" cho"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai;"

e)"Cập"nhật"thông"tin"thửa"đất,"tài"sản"gắn"liền"với"đất,"đăng"ký"vào"hồ"sơ"

địa"chính,"cơ"sở"dữ"liệu"đất"đai"(nếu"có);"

g)"Trường"hợp"người"sử"dụng"đất"đề"nghị"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"

dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"thì"gửi"số"liệu"địa" chính"đến" cơ" quan" thuế"để"xác"định" và"thông"báo"thu"nghĩa"vụ"tài" chính," trừ" trường"hợp"không"thuộc"đối"tượng"phải"nộp"nghĩa"vụ"tài"chính"hoặc"được"ghi"nợ" theo" quy" định" của" pháp" luật;" chuẩn" bị" hồ" sơ" để" cơ" quan" tài" nguyên" và" môi" trường"trình"ký"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và" tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất;"cập"nhật"bổ"sung"việc"cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền" sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"vào"hồ"sơ"địa" chính,"cơ"sở"dữ"liệu"đất"đai;"trao"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở" hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"cho"người"được"cấp,"trường"hợp"hộ" gia"đình,"cá"nhân"nộp"hồ"sơ"tại"cấp"xã"thì"gửi"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng" đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"cho"Ủy"ban"nhân"dân" cấp"xã"để"trao"cho"người"được"cấp."

4."Cơ"quan"tài"nguyên"và"môi"trường"thực"hiện"các"công"việc"sau:"

a)"Kiểm"tra"hồ"sơ"và"trình"cơ"quan"có"thẩm"quyền"cấp"Giấy"chứng"nhận"

quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất;"

Trường" hợp" thuê" đất" thì" trình" Ủy" ban" nhân" dân" cấp" có" thẩm" quyền" ký"

quyết"định"cho"thuê"đất;"ký"hợp"đồng"thuê"đất"và"trình"cơ"quan"có"thẩm"quyền" cấp"Giấy"chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác" gắn"liền"với"đất"sau"khi"người"sử"dụng"đất"đã"hoàn"thành"nghĩa"vụ"tài"chính" theo"quy"định"của"pháp"luật."

b)"Chuyển"hồ"sơ"đã"giải"quyết"cho"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai.”"

[4.3].Theo quy định trên của pháp luật, trong trường hợp hợp cấp Giấy

chứng nhận lần đầu cho cá nhân, khi thành phần hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đã đầy đủ, hợp lệ thì Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N phải chuẩn bị hồ sơ để Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận N tiến hành kiểm tra hồ sơ và trình

UBND Quận N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và

tài sản khác gắn liền với đất.

Việc Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N tự trả hồ sơ là không đúng pháp luật.

Từ phân tích trên, có cơ sở xác định việc trả hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận

của Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N là hành vi trái pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử hủy văn bản số 558/VPĐK .CNQ5 “V/v hoàn trả

hồ sơ” ngày 22/2/2017 của Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N.

Buộc Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố (do Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N thực

hiện) nhận và thụ lý lại hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận nhà số 53 Nguyễn Trãi

của ông N để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

[4.4].Đối với yêu cầu buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ Quận N cấp Giấy chứng

nhận theo Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 134/2016/

QĐDS-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận N.

Do thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền lần đầu thuộc về UBND Quận

N mà không thuộc về Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố nên yêu cầu này của ông N

không phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5].Quan điểm của Viểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp

với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6].Án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do Văn

phòng ĐKĐĐ Thành phố chịu.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ các điều 3, 30, 32, 116, 157, 187, 193, 194 và 206 Luật Tố tụng

hành chính;

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về “Quy định chi tiết

thi hành một số điều của Luật Đất đai” của Chính phủ.

Căn cứ Quyết định số 2602/QĐ-UBND ngày 03/6/2015 của UBND

Thành phố Hồ Chí Minh “Về Thành lập Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố trực

thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường”.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc N.

-Hủy văn bản số 558/VPĐK.CNQ5 “V/v hoàn trả hồ sơ” ngày 22 tháng 02

năm 2017 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận N.

-Buộc Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố (do Chi nhánh Văn phòng

Đăng ký đất đai Quận N thực hiện) nhận và thụ lý lại hồ sơ xin cấp Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nhà đất số 53 Nguyễn Trãi, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Lê Quốc N để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

2.Bác yêu cầu của ông Lê Quốc N về việc buộc Văn phòng đăng ký đất đai

Thành phố (Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận N) thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 134/2016/QĐDS-ST ngày 16/6/2016 của Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.Về án phí hành chính sơ thẩm: Văn phòng ĐKĐĐ Thành phố phải chịu số

tiền án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Ông N không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí

đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2017/0048074 ngày 02 tháng 11 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4.Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ