- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁNNHÂNDÂNQUẬNGÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1287/2017/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2017 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Minh Kiên
Bà Phạm Thị Thu Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 757/2017/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1706/2017/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1944/2017/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diệu H, sinh năm 1987; cư trú tại: Đường A, Khu
phố B, phường D, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1979; cư trú tại: Đường L, phường
M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 5 năm 2017 và trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Diệu H trình bày:
Chị Lê Thị Diệu H và anh Nguyễn Hùng C tự nguyện tìm hiểu, yêu thương
nhau từ năm 2013, đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường D, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2014, quyển số 02/2013 ngày 03/4/2014. Chị H và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Tấn T, sinh ngày 14/11/2014.
Trong quá trình chung sống, chị H và anh C ở tại địa chỉ đường L, phường
M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chị chung sống đến tháng 8/2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau nên hay cãi vã nhau, hai bên gia đình nội ngoại nhiều lần khuyên can hòa giải nhưng không được. Chị H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh C nhưng không được. Chị H đã từng nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh C ra Tòa án vào tháng 3/2017 nhưng được Tòa án động viên, hòa giải hàn gắn nên chị H đã rút đơn khởi kiện để mong có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh C. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng chị vẫn không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, chị H và anh C không sống hòa hợp hạnh phúc với nhau được, không còn quan tâm đến nhau nữa, tình cảm của chị H đối với anh C không còn nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2017 đến nay.
Chị H nhận thấy giữa chị với anh C không thể hàn gắn tình cảm, không sống
hòa hợp hạnh phúc được. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không có hạnh phúc, nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống về sau.
Trong quá trình vợ chồng chị H và anh C chung sống có mâu thuẫn thì hàng
xóm và chính quyền địa phương, hội phụ nữ phường nơi vợ chồng chị cư trú không biết. Vợ chồng chị cũng không nhờ hàng xóm và chính quyền địa phương can thiệp, giải quyết mâu thuẫn cho hai vợ chồng. Chị H đề nghị Tòa án không xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị ở địa phương vì mâu thuẫn của vợ chồng chị là chuyện nội bộ riêng trong gia đình.
Nếu ly hôn:
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Tấn T, sinh ngày
14/11/2014. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến khi trưởng thành, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay, chị H có công việc bán cửa hàng tạp hóa và thu nhập ổn định khoảng 10.000.000 đồng/tháng nên chị có đủ tài chính để nuôi con, còn anh C buôn bán xe máy cũ nên công việc không ổn định, thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng. Anh C có tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung hay không là tùy anh C.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Diệu H và anh Nguyễn Hùng C
không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa triệu tập anh Nguyễn Hùng C
nhiều lần đến Tòa để lấy lời khai, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng anh Nguyễn Hùng C không đến, do đó Tòa án không lấy lời khai của anh Nguyễn Hùng C cũng như không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.
Tại phiên tòa: Anh Nguyễn Hùng C vắng mặt không có lý do. Chị Lê Thị
Diệu H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, anh C cư trú ở quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của chị H xin ly hôn với anh C là có cơ sở nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, công nhận chị H được ly hôn với anh C, giao con chung là cháu Nguyễn Lê Tấn T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh C cho đến khi một trong các bên có yêu cầu, tài sản chung và nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của
Tòa án: Quan hệ tranh chấp giữa chị Lê Thị Diệu H và anh Nguyễn Hùng C là ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh C có địa chỉ cư trú tại đường L, phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về người tham gia tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập đương sự triệu tập anh C tới Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh C vắng mặt.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn
phiên tòa kèm Giấy triệu tập đương sự triệu tập anh C tham gia phiên tòa xét xử, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh C vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Hùng C.
.Về yêu cầu của các đương sự:
Chị Lê Thị Diệu H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hùng C. Hôn nhân giữa
chị H và anh C là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp, được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2014, quyển số 02/2013 ngày 03/4/2014 của Ủy ban nhân dân phường D, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chị H trình bày trong quá trình vợ chồng chị chung sống, đến tháng 8/2015
thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau nên hay cãi vã nhau, hai bên gia đình nội ngoại nhiều lần khuyên can hòa giải nhưng không được. Chị H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh C nhưng không được. Chị H đã từng nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh C ra Tòa án vào tháng 3/2017 nhưng được Tòa án động viên, hòa giải hàn gắn nên chị H đã rút đơn khởi kiện để mong có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh C. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng chị vẫn không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, chị H và anh C không sống hòa hợp hạnh phúc với nhau được, không còn quan tâm đến nhau nữa, tình cảm của chị H đối với anh C không còn nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2017 đến nay.
Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn
vợ chồng giữa chị H và anh C tại Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nơi anh chị cư trú khi sống chung, kết quả xác minh xác nhận không biết mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh C vì anh chị sống khép kín nên hàng xóm không biết nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh C, đến khi chị H nộp đơn ly hôn hàng xóm mới biết.
Xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu
giữa hai vợ chồng, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Thực tế, giữa chị H và anh C đã không còn chung sống với nhau, chị H đã từng nộp đơn khởi kiện ly hôn ra Tòa, sau đó chị H rút lại đơn khởi kiện để mong hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh C nhưng không thể hàn gắn tình cảm được nên chị H đã nộp lại đơn khởi kiện ly hôn với anh C. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, anh chị thực sự không còn yêu thương nhau, không quan tâm đến nhau nữa. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh C đến Tòa án để trình bày ý kiến, hòa giải đoàn tụ hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H nhưng anh C không đến. Điều đó chứng tỏ anh C không còn muốn hàn gắn tình cảm với chị H nữa. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh C là có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tich trên cho thấy cuô ̣c sống vợ chồng giữa chị H và anh C
́ hoàn toàn không có ha ̣nh phúc, mục đich hôn nhân không đa ̣t được. Căn cứ Điêù
́
56 Luâ ̣t Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử nhâ ̣n thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh C là chinh đáng, phù hợp với quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nên
́ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh C.
Về con chung: Quá trinh chung sống, chị H và anh C có 01 con chung là
̀ cháu Nguyễn Lê Tấn T, sinh ngày 14/11/2014. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến khi trưởng thành, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, anh C có tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hay không là tùy anh C. Xét thấy, yêu cầu của chị H là hoàn toàn tự nguyê ̣n, cháu T là con chung dưới 36 tháng tuổi, chị H có công việc và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu T. Do đó, căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Nguyễn Lê Tấn T cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp với điều kiện của chị H, đảm bảo tốt nhất cho cuộc sống của cháu Nguyễn Lê Tấn T về mặt thể chất cũng như tinh thần, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh C cho đến khi một trong các bên có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh C không có nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí về ly hôn là
300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh về quan hệ hôn nhân của chị H và anh C, việc nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử thống nhất.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
các điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Chấp nhâ ̣n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Diệu H.
1. Về quan hê ̣ hôn nhân: Chị Lê Thị Diệu H được ly hôn với anh Nguyễn
Hùng C.
Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2014, quyển số 02/2013 của Ủy ban nhân
dân phường D, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03 tháng 4 năm 2014 không còn hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Tấn T, sinh ngày
14/11/2014 cho chị Lê Thị Diệu H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Lê Tấn T đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Hùng C cho đến khi một trong các bên có yêu cầu.
Anh Nguyễn Hùng C được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con
chung mà không ai được cản trở quyền này của anh Nguyễn Hùng C.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay
đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Diệu H và anh Nguyễn Hùng C
không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Diệu H phải chịu án phí về
ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Lê Thị Diệu H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018690 ngày 06 tháng 6 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị Lê Thị Diệu H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lê Thị Diệu H, bị đơn anh Nguyễn
Hùng C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát ND quận Gò Vấp; - Thi hành án DS quận gò Vấp; - Ủy ban ND phường D, quận Q; - Các đương sự - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Tám |