vanban.org

Bản án 128/BA

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/08/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Bá L 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/9/2023. Hoàn trả cho bị cáo 01 (Một) đồng hồ đeo tay; 01 (Một) thẻ ngân hàng Agribank, 01 (Một) căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá L; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Redme và 01 (Một) điện thoại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST
Ngày 09 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Tiến Sĩ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Dân

Ông Võ Sĩ Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Phi Cát - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 120/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá L; Sinh năm: 1978; Tên gọi khác : không; Tại : Quảng Ninh; Nơi cư trú : Khu Kim Lăng, Phường CH, Thị xã Y, tỉnh QN; chổ ở hiện nay : hiện tạm trú : ấp 1, Thị trấn V, huyện M, tỉnh G; Nghề nghiệp : làm thuê; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh ; giới tính : nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Khẩn và bà Nguyễn Thị Khánh ( chết ); Vợ : Trần Thị Hà ; Tiền án : 05 lần: lần 1: Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2007/HS-ST ngày 18/4/2007 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 48 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2010 (chưa được xóa án tích) lần 2: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2010/HSST ngày 23/9/2010, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Bá L 36 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2013 (chưa được xóa án tích); Lần 3 : Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 27/01/2014, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử Nguyễn Bá L 36 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2016 (chưa được xóa án tích); lần 4: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/HSST ngày 18/4/2017, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử Nguyễn Bá L 30 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/6/2019 (chưa được xóa án tích); lần 5 : Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 285/2019/HSST ngày 25/11/2019, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội tuyên phạt Nguyễn Bá L 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2022 (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2023 đến nay. Có mặt.

Bị hại : ông Quách Minh M, sinh năm : 1984, trú số 46B, đường Đinh Tiên Hoàng, phường A, thành phố C. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Vào khoảng 18 giờ ngày 21/9/2023, anh Quách Minh M cùng với đồng nghiệp là anh Trần Minh S và tài xế của anh M là Thái H cùng đến Nhà khách Minh Hải thuộc khóm D , phường G , thành phố H để thuê phòng nghỉ. Do không có phòng giường đôi cho 03 người nên nhóm anh Mẫn lấy 02 phòng, anh M ở phòng 104 một mình, còn S và H ở phòng 109 đối diện phòng anh Mẫn.

Sau khi nhận phòng và lưu trú tại phòng số 104 của Nhà khách, anh M ngủ đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì thức dậy, đến gần 00 giờ ngày 22/9/2023 thì tiếp tục ngủ. Trước khi ngủ, anh M có để 01 bóp da màu nâu đen trên tủ đầu giường (phía bên trái đầu nằm), bên trong có tiền Việt Nam là 21.500.000 đồng và 05 tờ ngoại tệ (Đô la Mỹ), mỗi tờ mệnh giá 100 USD. Đồng thời anh M có gài cửa chính và khóa chốt an toàn (riêng cửa ra ban công thì không kiểm tra do có rèm che lại).

Đến khoảng 06 giờ ngày 22/9/2023, anh Mẫn thức dậy thì phát hiện cái bóp bị di chuyển đến góc phía dưới chân giường sát góc tường nhà vệ sinh, anh M kiểm tra lại bóp thì phát hiện bị mất trộm tài sản bao gồm: tiền Việt Nam 21.500.000 đồng và ngoại tệ là 500 USD (Năm trăm đô la Mỹ). Lúc này, anh M gọi báo cho Lễ tân của Nhà khách Minh Hải và trình báo nội dung vụ việc đến Công an phường G, thành phố H, tỉnh E

Tại Cơ quan điều tra, anh M cung cấp 01 ảnh chụp lưu ở thư mục Ảnh trong điện thoại di động của anh M thể hiện: ảnh chụp bàn tay có đeo vòng hạt màu vàng và đồng hồ màu đen đang cầm 01 xấp tiền, tờ ngoài cùng có mệnh giá 100 USD, có số sê ri là “PE00498664”. Ông M trình bày, đây là hình ảnh do anh Mẫn tự chụp vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 16/5/2021. Trên tay có cầm xấp ngoại tệ là các tờ tiền mệnh giá 100 USD. Anh M nhớ trong số tờ tiền bị mất vào ngày 22/9/2023 có 02 (Hai) tờ có số seri “PE00498688”, PE00498686” cùng đầu số seri của xấp tiền anh M chụp nên cung cấp cho Cơ quan điều tra làm căn cứ.

Đồng thời, anh M cung cấp 06 tờ tiền mệnh giá 100 USD, qua kiểm tra xác định cả 06 tờ tiền này đều có đầu số Seri là “PE004986” cụ thể bao gồm: PE00498665, PE00498666, PE00498667, PE00498670, PE00498671, PE00498672. Anh Mẫn xác định đây là 06 tờ tiền có đầu số “PE004986” trong xấp tiền USD đổi ngày 16/5/2021 (cùng với ảnh chụp đã cung cấp). Anh M nhớ trong 05 tờ tiền bị mất ngày 22/9/2023 tại Nhà khách Minh Hải thuộc phường G, thành phố H có 02 tờ tiền có cùng đầu số Seri “PE004986” là “PE00498688” và “PE00498686” (tức phát lộc phát phát và phát lộc phát lộc) vì đây là những tờ tiền may mắn của anh M và thường lấy ra xem nên anh Mẫn nhớ rõ số seri trên tờ tiền.

Nhận được nguồn tin, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường và xác minh, làm việc với những người có liên quan. Quá trình làm việc với Nhân viên trực lễ tân, Nhân viên trực Bảo vệ của Nhà khách và kiểm tra sổ sách lưu trú của Nhà khách thể hiện có khách tại phòng 103 của Nhà khách (gần phòng 104 của anh M), theo khai báo lưu trú và cung cấp thẻ CCCD thể hiện người khách có họ tên là Nguyễn Bá Lg, sinh ngày 13/7/1978, số CCCD 022078000613, vào ngày 20/9/2023, L đến Nhà khách nhận phòng 201 của Nhà khách. Đến khoảng 09 giờ ngày 21/9/2023, Nhân viên Nhà khách đổi L xuống phòng 103 (phòng đơn). Khoảng hơn 03 giờ 35 phút ngày 22/9/2023, L đến quầy Lễ Tân của Nhà khách thanh toán tiền phòng và ra cổng yêu cầu Nhân viên Bảo vệ của Nhà khách mở cổng để đi ra ngoài.

Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau phối hợp với Công an thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tiến hành mời Nguyễn Bá L cùng với vợ là Trần Thị H để làm rõ các nội dung có liên quan. Tại đây, Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản và tạm giữ của L các tài sản, đồ vật sau:

- 05 (Năm) tờ ngoại tệ (Đô la Mỹ) mệnh giá mỗi tờ là 100 USD (cụ thể gồm các tờ có số seri như sau: PE00498686, PE00498687, PE00498688, PE00498699, PB18725533 – tiến hành chụp ảnh 5 tờ tiền được in ra tờ giấy A4 có chữ ký xác nhận của Lương);

- Tiền Việt Nam là 18.250.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng);

- 01 (Một) đồng hồ đeo tay;

- 01 (Một) thẻ ngân hàng Agribank, 01 (Một) căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá L;

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Redme và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme (đã qua sử dụng).

Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Thị H tự nguyện giao nộp: 01 (Một) ba lô màu đen, phía trước có phần màu trắng đỏ; 01 (Một) nón lưỡi trai, màu nâu đất viền đỏ, phía trước có chữ Adidas; 01 (Một) áo khoác màu xanh xi măng, bên ngực trái có chữ “PUNG”, màu trắng. Chị H xác định những tài sản, đồ vật trên là của chồng chị tên Trần Bá L.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bá L cho rằng bản thân không biết gì đến vụ mất trộm tại phòng số 104 của Nhà khách Minh Hải thuộc phường G, thành phố H. Đối với 05 tờ ngoại tệ mệnh giá mỗi tờ là 100 USD bị thu giữ, L cho rằng là do L đổi ở tiệm vàng Minh Tâm, địa chỉ tại đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 10 ngày trước đó) với số tiền 12.400.000 đồng. Riêng đối với số tiền Việt Nam 18.250.000 đồng bị tạm giữ, L cho rằng là tiền do vợ là Trần Thị H chuyển khoản cho L khoảng 10 ngày trước đó L cho rằng, vào khoảng thời gian 10 ngày trước khi bị mời làm việc, do hết tiền nên L đã yêu cầu vợ chuyển khoản cho L tiền để làm ăn. Sau đó, vợ L chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng Agribank của L (số tài khoản 8002205118558) với số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Sau khi vừa nhận được tiền, L đến một cây ATM ở thành phố Hồ Chí Minh để rút số tiền mặt 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Sau khi rút tiền, L đến tiệm vàng Minh Tâm dùng số tiền 12.400.000 đồng để đổi lấy 05 tờ tiền USD với tổng giá trị là 500 USD. L chi xài cá nhân và còn lại số tiền trên thì bị mời làm việc và tạm giữ.

Tuy nhiên, qua kết quả điều tra xác minh thể hiện: Trên tuyến đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có duy nhất 01 cơ sở kinh doanh tiệm vàng Minh Tâm, địa chỉ số 707-709, đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1982, trú tại số 373, Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh là chủ cơ sở kinh doanh. Ông H và nhân viên tại đây xác định: Từ trước đến nay, Cơ sở kinh doanh Minh Tâm không hoạt động “Mua bán trao đổi ngoại tệ” (đồng USD) nên chưa từng mua bán, trao đổi USD với bất kỳ ai. Từ trước đến nay, không quen biết và chưa từng gặp người đàn ông trong ảnh (Nguyễn Bá L) do Cơ quan điều tra cho xem.

Đối với việc L khai rút tiền tại cây ATM ở Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả điều tra, xác minh, tra cứu thông tin thể hiện không có sự việc Lương rút số tiền 40.000.000 đồng và đổi ngoại tệ (05 tờ tiền mệnh giá 100 USD) tại cơ sở kinh doanh (tiệm vàng) Minh Tâm ở Thành phố Hồ Chí Minh như lời khai của L.

Theo Kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau kết luận:

Tại thời điểm ngày 22/9/2023, 500 USD (tiền đô la Mỹ) có giá là 11.627.500đ (Mười một triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Theo Kết luận giám định số 6845/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

05 (Năm) tờ ngoại tệ Đô la Mỹ, mệnh giá 100 USD cần giám định là tiền thật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Bá L không thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS, ngày 18 tháng 01 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn bá Lương về tội “Trộm cắp tài sản ” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố Nguyễn Bá L phạm tội “ trộm cắp tài sản ”

- Xử phạt : Nguyễn Bá L từ 05 năm đến 06 năm tù

- Về vật chứng gồm : 01 (Một) đồng hồ đeo tay; 01 (Một) thẻ ngân hàng Agribank, 01 (Một) căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá Lương; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Redme và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme (đã qua sử dụng); 01 (Một) ba lô màu đen, phía trước có phần màu trắng đỏ; 01 (Một) nón lưỡi trai, màu nâu đất viền đỏ, phía trước có chữ Adidas; 01 (Một) áo khoác màu xanh xi măng, bên ngực trái có chữ “PUNG”, màu trắng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị mất, vì vậy trả lại cho bị hại số tiền thu giữ được là 18.250.000đ và 500USD.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên, viện kiểm sát thành phố Cà Mau, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến, khiếu nại gì nên tất cả đều thực hiện đúng quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo cho rằng 500USD và số tiền Việt Nam trong bóp bị cáo có được là do cậu bị cáo tên Nguyễn Văn Dương đưa cho bị cáo 40.000.000đ để mua vé đi du lịch Campuchia và mua 500 USD ( 5 tờ mệnh giá 100 USD ) tại tiệm vàng trên tuyến đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do cậu Nguyễn Văn Dương và mợ là Vũ Thị B không đi nên bị cáo giữ tiền và 500 USD lại.

Xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa tuy bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng qua kết quả điều tra và xác minh thể hiện: Trên tuyến đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có duy nhất 01 cơ sở kinh doanh tiệm vàng Minh Tâm, địa chỉ số 707-709, đường Kinh Dương Vương, phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1982, trú tại số 373, Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh là chủ cơ sở kinh doanh. Ông H và nhân viên tại đây xác định: từ trước đến nay, Cơ sở kinh doanh Minh Tâm không hoạt động “Mua bán trao đổi ngoại tệ” (đồng USD) nên chưa từng mua bán, trao đổi USD với bất kỳ ai và không quen biết và chưa từng gặp người đàn ông tên Nguyễn Bá L. Mặt khác, khi làm việc với ông Nguyễn Văn D, bà Vũ Thị B thì cả hai đều xác định trong tháng 9/2023 không có đi du lịch ở đâu và cũng không có đi đến TP Hồ Chí Minh mà chỉ ở nhà tại Quảng Ninh và cũng không gặp L, cũng không có thực hiện giao dịch tiền với L và không có sự việc đưa tiền kêu L mua hoặc đổi thành USD. Đồng thời tại lời khai của ông Nguyễn Văn Kh là cha ruột Nguyễn Bá L xác định :“… L bị bắt khoảng mấy tháng có gọi điện thoại về 02 lần nói với tôi là Tòa mới hoãn tòa và kêu tôi qua nhờ mợ Bầu khi công an mời làm việc khai là vào tháng 9/2023 có đi du lịch Singapore đi máy bay từ sân bay Nội Bài đến sân bay Tân Sơn nhất, tại sân bay Tân Sơn Nhất mợ không gặp L, nhưng L kêu người ra gặp mợ nhận 40.000.000đ để đổi USD. Sau đó mợ bận việc không đi nữa mà bắt máy bay về Quảng Ninh, số tiền 40.000.000đ Lương giữ lại đến khi bị bắt …”. Ngoài ra tại bảng sao kê của ngân hàng Agribank thì số tiền vợ bị cáo tên Trần Thị H nộp vào tài khoản của bị cáo vào ngày 15/9/2023 là 60.000.000đ, cũng trong thời gian từ ngày 15/9/2023 đến ngày 17/9/2023 bị cáo đã chuyển tiền cho bà B là mợ bị cáo hai lần là 50.000.000đ và chuyển cho người tên Tn là 10.000.000đ… số tài khoản của bị cáo còn số dư là 295.900đ.

Như vậy, với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và căn cứ lời khai của ông D, ông Kh là cậu và cha ruột của bị cáo đã phân tích trên có đủ cơ sở xác định Nguyễn Bá L đã có hành vi lén lút vào phòng của bị hại thuê tại nhà khách Minh Hải lấy trộm tài sản của bị hại Quách Minh M vào rạng sáng ngày 22/9/2023. Với hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “ trộm cắp tài sản” theo quy định điều 173 Bộ luật hình sự.

Với các chứng cứ và phân tích nêu trên tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể : Khi thấy anh M đang nằm ngủ bị cáo leo vào phòng bị hại bằng đường lan can cửa hành lang phía sau của nhà khách Minh Hải để lấy trộm tài sản là tiền và đô la để trong bóp của bị hại với số tiền 21.500.000đ và 500 USD. Với hành vi phạm tội của bị cáo, cùng với việc bị cáo đã có tiền án về tội “ trộm cắp tài sản ” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, vì vậy cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án là nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản người khác, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Quá trình điều tra tuy bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng tại phiên tòa qua phân tích bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nên đây được xem là tình tiết thật thà khai báo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.Tuy nhiên, xét về nhân thân của bị cáo có nhiều tiền án về tội “ trộm cắp tài sản ” , lẽ ra khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải biết tìm cho mình công việc ổn định để trở thành người có ích cho xã hội, nhưng bị cáo không làm điều đó mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện ngày càng tinh vi hơn. Do đó nhận thấy bị cáo chưa biết sửa đổi và ăn năn hối cải nên khi lượng hình cần có mức án thật nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.

Về vật chứng gồm : 01 (Một) đồng hồ đeo tay; 01 (Một) thẻ ngân hàng Agribank, 01 (Một) căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá L; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Redme và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme (đã qua sử dụng); 01 (Một) ba lô màu đen, phía trước có phần màu trắng đỏ; 01 (Một) nón lưỡi trai, màu nâu đất viền đỏ, phía trước có chữ Adidas; 01 (Một) áo khoác màu xanh xi măng, bên ngực trái có chữ “PUNG”, màu trắng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự : bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị mất mà chỉ xin nhận lại số tiền đã thu hồi được. Xét đây là sự tự nguyện và là quyền định đoạt của bị hại nên xem xét trả lại cho bị hại số tiền 18.250.000đ và 500USD là phù hợp.

Về án phí bị cáo phải chịu theo quy định .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Căn cứ Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án;

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Bá L 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/9/2023.

- Hoàn trả cho bị cáo 01 (Một) đồng hồ đeo tay; 01 (Một) thẻ ngân hàng Agribank, 01 (Một) căn cước công dân và 01 (Một) giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá L; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Redme và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme (đã qua sử dụng); 01 (Một) ba lô màu đen, phía trước có phần màu trắng đỏ; 01 (Một) nón lưỡi trai, màu nâu đất viền đỏ, phía trước có chữ Adidas; 01 (Một) áo khoác màu xanh xi măng, bên ngực trái có chữ “PUNG”, màu trắng.

- Hoàn trả cho anh Quách Minh M tiền Việt Nam là 18.250.000đ; 05 (Năm) tờ ngoại tệ (Đô la Mỹ) mệnh giá mỗi tờ là 100 USD (cụ thể gồm các tờ có số seri như sau: PE00498686, PE00498687, PE00498688, PE00498699, PB18725533.

- Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ ( chưa nộp ).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêù 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ