vanban.org

Bản án 128/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân, không công nhận vợ chồng giữa chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C.

Về con chung là Bùi Thanh Ngân, sinh năm 2000 và Bùi Phong Vinh, sinh năm 2003. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên không xem xét. Về tài sản chung, chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa bà Ngô Thanh T với ông Bùi Phong C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân, không công nhận vợ chồng giữa chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2026/HNGĐ-ST
Ngày 26 – 3 – 2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Việt Bắc.

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 170/2026/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thanh T, sinh ngày 01/01/1981; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Địa chỉ: Ấp 8, xã Đ, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Bùi Phong C, sinh ngày 01/01/1981; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 01/9/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Địa chỉ: Ấp 8, xã Đ, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây, giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do bất đồng ý kiến dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau. Nay cả anh, chị đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chị ly hôn.

Về con chung là Bùi Thanh Ngân, sinh năm 2000 và Bùi Phong Vinh, sinh năm 2003. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên khi ly hôn, anh chị không đặt ra yêu cầu gì về con.

Về tài sản chung, chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C khai không có.

Đồng thời, do bận công việc gia đình nên chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C xin vắng mặt trong các phiên làm việc, hòa giải, xét xử cho đến khi kết thúc vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, các đương sự đã có lời khai và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc gia đình nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau từ năm 2000 đến nay tuy đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định nên căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn trên không được đăng ký theo quy định là không có giá trị pháp lý. Xét mâu thuẫn thực tế được các đương sự thừa nhận là có thật và cũng chính từ mâu thuẫn nêu trên, các đương sự không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên cùng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, do quan hệ hôn nhân giữa các đương sự có vi phạm về mặt hình thức nên quan hệ hôn nhân trên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Về con chung là Bùi Thanh Ngân, sinh năm 2000 và Bùi Phong Vinh, sinh năm 2003. Hiện các con đã trưởng thành, nuôi sống bản thân được nên khi ly hôn, các đương sự không đặt ra yêu cầu gì về con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, các đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14, và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân, không công nhận vợ chồng giữa chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C.

- Về con chung là Bùi Thanh Ngân, sinh năm 2000 và Bùi Phong Vinh, sinh năm 2003. Hiện các con đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân được nên không xem xét.

- Về tài sản chung, chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung, chị Ngô Thanh T và anh Bùi Phong C khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Ngô Thanh T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 03/3/2026, chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0002268 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ