- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh L- Trần Thị Thanh L"
- Tòa quyết gì? Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Mộc M, sinh ngày 07/11/2013 cho anh Nguyễn Thanh L2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 9 - 2025 V/v: Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thiện và bà Phùng Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Anh Việt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm lý số: 148/2025/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, con chung”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 111/2025/QĐST- HNGĐ ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh 1988; Số căn cước xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn K, xã K, tỉnh Quảng Trị (thôn K, xã K, tỉnh Quảng Bình cũ); có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh L1, sinh ngày 1992; Số căn cước: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Tiểu khu A, xã H, tỉnh Quảng Trị, (Tiểu khu A, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình cũ). Hiện đã xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ; vắng mặt lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh L2 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Thanh L1 có quá trình tìm hiểu và yêu nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 03/7/2013 tại UBND thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay xã H, tỉnh Quảng Trị). Đến năm 2021 do điều kiện kinh tế khó khăn chị L1 tự làm thủ tục đi lao động tại Đài Loan, thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không còn liên lạc gì với nhau, bỏ mặc nhau và không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay Anh nhận thấy vợ chồng sống ly thân nhau trong thời gian dài, đời sống hôn nhân trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn chị L1.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trần Mộc M, sinh ngày 07/11/2013. Do hiện tại chị chị L1 đang cư trú tại nước ngoài, nên sau ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu chị L1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về phía bị đơn chị Trần Thị Thanh L1: Tại công văn số: 1674/CV- QLXNC ngày 19/6/2025 của Phòng Q Công an tỉnh Q (BL:17) xác nhận chị Trần Thị Thanh L1 đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 26/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do không xác định được địa chỉ cư trú của bị đơn đã xuất cảnh ra nước ngoài, Tòa án đã tiến hành thủ tục đăng tin thông báo công khai trên hệ thống phát thanh Đối ngoại quốc gia Đài tiếng nói Việt Nam trên kênh VOV5 dành cho người Việt Nam đang ở nước ngoài trong 03 số liên tiếp vào các ngày 14, 15, 16/08/2025 (BL:33); tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng và tiến hành xác minh lấy lời khai của người thân của chị L1 (BL: 30- 32) nhằm thông báo cho chị L1 được biết việc Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn của anh L2, nhưng không nhận được bất cư phản hồi nào của chị L1.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2025, bà Võ Thị Xuân L3 là mẹ đẻ của chị Trần Thị Thanh L1 trình bày (BL:30): Chị L1 đã đi lao động tại Đài Loan và có liên lạc với gia đình và cho biết giữa vợ chồng có mâu thuẫn nên anh L2 đang làm thủ tục xin ly hôn tại Tòa án, nhưng do chị L1 đang ở Đài Loan nên không có điều kiện để về nước giải quyết. Vợ chồng anh L2, chị L1 có 01 con chung cháu Nguyễn Trần Mộc M, sinh ngày 07/11/2013 hiện đang do bà chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung thì hai vợ chồng không có.
* Ý kiến phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho các bên được ly hôn nhau; giao 01 con chung Nguyễn Trần Mộc M cho anh L2 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ghị nhận sự tự nguyện của anh L2 về việc không yêu cầu chị L1 cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 10/2025 cho đến khi đủ 18 tuổi. Về tài sản chung không xem xét giải quyết và buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của nguyên đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Theo xác nhận của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Q thì chị Trần Thị Thanh L1 đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 26/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án được xác định có yêu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay tỉnh Quảng Trị) theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị thụ lý đã tiến hành tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có kết quả. Vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của chị Trần Thị Thanh L1 và đăng báo công khai kênh đối ngoại quốc gia VOV5 Đ để thông báo cho chị Trần Thị Thanh L1 được biết việc anh L2 có yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không nhận được thông tin gì từ chị L1. Vì vậy, căn cứ điểm b, c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị Thanh L1.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy anh Nguyễn Thanh L2 và chị Trần Thị Thanh L1 có đăng ký kết hôn vào ngày 03/7/2013 tại UBND thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, cho nên hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Theo lời khai của anh L2 thì sau khi kết hôn được một thời gian ngắn, đến năm 2021 chị L1 đã đi lao động tại Đài Loan, cho nên tình cảm vợ chồng dần phai nhạt và phát sinh nhiều mâu thuẫn nên hiện tại các bên không còn liên lạc gì với nhau, bỏ mặc nhau. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng các bên đương sự đã sống ly thân nhau trong một thời gian dài, đời sống hôn nhân trên thực tế không còn tồn tại, không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, cho nên anh L2 có yêu cầu giải quyết được ly hôn chị L1 là có căn cứ và phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Các bên đương sự có 01 con chung là Nguyễn Trần Mộc M, sinh ngày 07/11/2013. Xét thấy, hiện nay chị L1 đang ở nước ngoài nên không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Trần Mộc M, sinh ngày 07/11/2013 cho anh L2 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ghị nhận sự tự nguyện của anh L2 về việc không yêu cầu chị L1 cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 10/2025 cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với các quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí, lệ phí: anh Nguyễn Thanh L2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và lệ phí tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; các Điều 147, 153, 228, 469, 474, 475, 477, 479 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án; Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Thanh L2 được ly hôn chị Trần Thị Thanh L1.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Mộc M, sinh ngày 07/11/2013 cho anh Nguyễn Thanh L2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghị nhận sự tự nguyện của anh L2 về việc không yêu cầu chị L1 cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 10/2025 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
- Anh Nguyễn Thanh L2 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005440 ngày 03/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị). Xác nhận đương sự đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh L2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, chị Trần Thị Thanh L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2025).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Trị; - THADS tỉnh Quảng Trị; - Các đương sự; - UBND xã Hoàn Lão; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hoàng Thị Thanh Nhàn |