- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với ông Lê Văn Phúc E1, bà Nguyễn Thị Liên
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 128/2025/DS-ST Ngày: 29/4/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Luỹ
2. Bà Nguyễn Thuý Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên Tòa: Lê Thị Cẩm Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2025/TLST-DS, ngày 19 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST- DS, ngày 31 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C, có trụ sở tại: Số A, phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện P làm đại diện theo văn bản ủy quyền số 42/QĐ – NHCS ngày 06 tháng 6 năm 2022, xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lâm Văn Phúc E, sinh năm 1984, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969.
Cư trú tại: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2025 và lời khai của đại điện nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:
Ngày 24/03/2019 ông Lâm Văn P Em đại diện cho hộ gia đình vay vốn tại phòng giao dịch NHCSXH huyện P chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, tổng số tiền vay là 12.000.000đ, thời hạn trả nợ vay là 24/03/2024 lãi suất trong hạn là 0,75%/tháng và lãi suất quá hạn là 0,975%/tháng đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 16/4/2024. Tổng cộng vốn gốc và lãi tính đến ngày 17/02/2025 là 16.168.085 đồng, trong đó tiền gốc là 12.000.000 đồng, tiền lãi là 4.168.085 đồng.
Sau khi nhận tiền vay thì hộ ông Phúc E không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn vay và tiền lãi theo chương trình vay với Ngân hàng được lần nào. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Phúc E, bà Nguyễn Thị L liên đới trả cho ngân hàng số tiền 16.168.085 đồng, trong đó tiền vốn là 12.000.000 đồng, lãi 4.168.085 đồng.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà L, ông Phúc E vắng mặt không có lời trình bày.
Tại phiên Toà đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày trong đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Toà án buộc ông Phúc E và bà L liên đới trả số tiền vốn vay là 12.000.000đồng, tiền lãi là 6.395.033 đồng tính đến ngày 29/4/2025.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà L, ông Phúc E trả cho ngân hàng số tiền 18.395.033 đồng, trong đó tiền vốn gốc là 12.000.000đồng, lãi là 6.395.033 đồng tạm tính đến ngày 29/04/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu ông Phúc E, bà L có trách nhiệm trả tiền vay nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa lần thứ hai, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng C với Lê Văn Phúc E1 (đại diện cho hộ gia đình) được xác lập theo giấy đề nghị vay vốn ngày 22/3/2019 số tiền vay 12.000.000đồng, mục đích vay là xây cầu hợp vệ sinh và bồn nước sau khi được phê duyệt thì ngày 24/3/2019 ông Phúc E1 đại diện hộ gia đình nhận 12.000.000 đồng.
Xét về hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Căn cứ các chứng cứ Ngân hàng C cung cấp gồm sổ vay vốn theo chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn số tiền 12.000.000đồng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 16/4/2024, giấy ủy quyền cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ của các thành viên trong hộ đối với các khoản vay nói trên. Quá trình tố tụng các đương sự không có ý kiến gì đối với các chứng cứ này điều đó phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý.
Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn với bà L, ông Phúc E1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, theo đó hộ ông Phúc E1 đã nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng. Sau khi nhận tiền vay thì ông Phúc E1 không đóng lãi, trả vốn cho ngân hàng được lần nào mặc dù ngân hàng đã tạo điều kiện đôn đốc, nhắc nhở và các đương sự có cam kết trả nợ nhưng đến nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Vì vậy, buộc ông Phúc E1, bà L có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân Hàng đối với số tiền vốn còn nợ của chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền là 12.000.000 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải chịu tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng đã ký kết tính đến ngày 29/4/2025 tiền lãi là 6.395.033 đồng, tổng cộng vốn lãi là 18.395.033 đồng.
Từ những cơ sở trên nghĩ nên buộc ông Phúc E1, bà L có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 29/4/2025 của hợp đồng tín dụng tổng cộng là 18.395.033 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu tiền án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với ông Lê Văn Phúc E1, bà Nguyễn Thị Liên
Buộc ông Lê Văn Phúc E1, bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền vốn vay còn nợ theo chương trình vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 12.000.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 29/4/2025 là 6.395.033 đồng, Tổng cộng vốn và lãi là 18.395.033 đồng.
Kể từ ngày 29/4/2025, ông Lâm Văn Phúc E, bà Nguyễn Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận sổ vay vốn theo chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Bà Nguyễn Thị L, ông Lâm Văn Phúc E cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 919.751đồng.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc T |