vanban.org

Bản án 128/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ - 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (21/4/2023). Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Tấn Quốc Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI
--------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2023/HSST
Ngày: 08/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Ông Trần Phan Quốc Chương

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên.

Ngày 08/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/HSXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Tấn Quốc Đ; sinh ngày 20 tháng 3 năm 2002 tại Gia Lai; Trú tại: Tổ X, phường Chi L, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Tấn L, sinh năm 1965 và bà Lê Thị X, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai từ ngày 21/4/2023 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

* Người chứng kiến:

Ông Lương Văn A, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ X, phường Chi L, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Tấn Quốc Đ sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian tháng 3/2023; qua các mối quan hệ ngoài xã hội, Đ biết đối tượng T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 21/4/2023, Đ gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy (loại Methamphetamine) để sử dụng, T đồng ý và hẹn Đ đến khu vực ngã ba đường Trường C và đường Lý Chính T, phường Chi L, thành phố P để giao dịch. Sau đó, Đ đi bộ từ nhà ở đường Lý Chính T, tổ X, phường Chi L đến điểm hẹn gặp T mua 06 gói ma túy (loại Methamphetamine) với giá 1.200.000đ, rồi cầm ma túy trên tay đi về nhà để cất giấu. Đến 10 giờ 45 phút ngày 21/4/2023, khi Đ về đến trước nhà thì bị lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong tay phải của Đ 06 gói nilon bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định); ngoài ra, Cơ quan Điều tra còn thu giữ của Đ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus cùng thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984.04800.03891.58694).

Tại Kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng, dạng tinh thể trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7871 gam”.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 135/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Trịnh Tấn Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

*Về vật chứng của vụ án:

Đối với chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, trong 01 bì công văn ghi số 395/PC09 ngày 28/4/2023, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus kèm thẻ sim (mặt sau sim có dãy số 8984.04800.03891.58694), là công cụ bị cáo Đ sử dụng để liên lạc mua ma túy đề nghị HĐXX tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Trước khi HĐXX nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình phạm tội, xin HĐXX xem xét, giảm hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại hồ sơ, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 21/4/2023, tại đường Lý Chính T, thuộc Tổ X, phường Chi L, thành phố P, khi Trịnh Tấn Quốc Đ đang tàng trữ 0,7871 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ mua, cất giữ 0,7871 gam chất ma túy loại Methamphetamine là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất ma túy, Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe của con người, làm suy thoái nòi giống dân tộc, băng hoại đạo đức và phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên Nhà nước có chính sách quản lý, kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng lao động, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được tác hại của tệ nạn ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh của bản thân, đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi mua, cất giấu chất ma túy để sử dụng. Do đó hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy và phải chịu sự chế tài của pháp luật hình sự, theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Để có một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đối với bị cáo, HĐXX nhận định: Bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, đã tham gia hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Để đấu tranh và phòng ngừa với các tội phạm về ma túy, xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với đối tượng tên T mà bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ khai là người đã bán ma túy cho Đ, nhưng không biết rõ họ tên, lai lịch; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo, không có tài sản riêng, hành vi phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp. Do đó HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, trong 01 bì công văn ghi số 395/PC09 ngày 28/4/2023, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, cần tịch thu tiêu hủy

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus kèm thẻ sim (mặt sau sim có dãy số 8984.04800.03891.58694), là công cụ bị cáo Đ sử dụng để liên lạc mua ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về tiền án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

-Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ - 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (21/4/2023).

-Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

+ Tịch thu tiêu hủy:

Chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, trong 01 bì công văn ghi số 395/PC09 ngày 28/4/2023, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai.

+Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus kèm thẻ sim (mặt sau sim có dãy số 8984.04800.03891.58694).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/7/2023 giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai).

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Trịnh Tấn Quốc Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ