vanban.org

Bản án 128/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/01/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc: Bị cáo Trương Văn H bồi thường cho anh Trần Văn L 19.166.000đ (mười chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn H "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/01/2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực

Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Phạm Văn Bình.

. Bà Võ Thị Bời.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Trương Văn H- sinh năm 1983; nơi cư trú: Không nơi cư trú rõ ràng (sống lang thang); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn D (chết) và bà (không rõ); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 257/2016/HS-ST ngày 03/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2017; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2023. Có mặt.

- Bị hại: Trần Văn L- sinh năm 1992; HKTT: Xã CTB, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: 22 đường TBT, phường PT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ sáng ngày 24/01/2023, Trương Văn H điều khiển xe đạp đi quanh khu vực đường TBT tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước nhà số 22 đường TBT, phường PT, thành phố N, H phát hiện ô tô Honda Civic biển kiểm soát 79A- 281.62 màu xanh đen của anh Trần Văn L đang để trước nhà không khóa cửa xe, đèn trong xe mở, H liền lẻn vào bên trong tìm kiếm thì thấy 01 tệp tiền mệnh giá 100.000 đồng cùng 01 bịch nylon màu trắng trong đó có 01 xấp tiền 50.000 đồng và 200.000 đồng để lộn xộn. Sau khi trộm tiền trong xe ô tô, H bỏ đi và kiểm tra được số tiền 26.000.000 đồng. Số tiền trộm cắp được H sử dụng chi tiêu cá nhân, còn lại 6.834.000 đồng bị Cơ quan công an thu giữ ở trên người. Tài liệu, đồ vật thu, tạm giữ: 01 xe đạp nhãn hiệu Martin màu sơn trắng; tiền mặt 6.834.000 đồng (đã trả cho chủ sở hữu).

Bản Cáo trạng số 142/CT-VKSNT ngày 20 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố N để xét xử Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Văn Hiếu theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa, bị hại vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn H khai nhận vào khoảng 04 giờ sáng ngày 24/01/2023, H đã trộm cắp 26.000.000 đồng trong xe ô tô biển kiểm soát 79A- 281.62 của anh Trần Văn L đang đỗ trước nhà số 22 đường TBT, phường PT, thành phố N. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, các Biên bản làm việc, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 142/CT-VKSNT ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa truy tố Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Về nhân thân: Bản án số 257/2016/HS-ST ngày 03/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Trương Văn H 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp án phí năm 2018; thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo trộm cắp số tiền 26.000.000 đồng của anh Trần Văn L. Tại phiên tòa, anh L vắng mặt nhưng có lời khai xác định đã nhận lại 6.834.000 đồng và anh L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 19.166.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường cho anh L số tiền này. Do vậy buộc bị cáo Trương Văn H bồi thường cho anh Trần Văn L 19.166.000 đồng. [5] Về vật chứng thu giữ: 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Martin màu sơn trắng, thu giữ của bị cáo là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. [6] Về án phí: Bị cáo Trương Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Văn H.

Xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/01/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc: Bị cáo Trương Văn H bồi thường cho anh Trần Văn L 19.166.000đ (mười chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án khoản tiền trên thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự; Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Martin màu sơn trắng (xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong). (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự Tp.N).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 958.000đ (chín trăm năm mươi tám nghìn đồng- làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ