- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2023/HS-ST Ngày: 15/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Đức
Bà Nguyễn Văn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 155/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 145/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Minh T; Tên gọi khác: Không. Giới tính: nam; sinh năm 1987, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Văn Hoá: 6/12. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Họ tên cha: Lê Văn B, sinh năm 1945 và mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1954 (đã chết). Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình có 07 chị em. Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Trần Băng Sơn, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ ngày 01/7/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Anh Lê Quang V, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Khu phố Phan Bội Châu, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt) Ơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ ngày 01/7/2023, Lê Minh T đi bộ ngang qua chốt thông tin tín hiệu ga tàu Dầu Giây thuộc khu phố Phan Bội Châu, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện có 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891 của anh Lê Quang V, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú tại khu phố Phan Bội Châu, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất dựng trước chốt, trên xe cắm sẵn chìa khóa, Tâm nhìn xung quanh không thấy có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Tâm lén lút lại gần trèo lên chiếc xe mô tô của anh V và bật chìa khóa định nổ máy xe chạy đi thì bị anh V phát hiện chạy ra giữ lấy Tâm và báo Công an thị trấn Dâu Giây lập biên bản phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 922/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất xác định: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 4.830.000 đồng.
Quá trình điều tra, Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 là tài sản của ông Lê Quang Cường (cha ruột anh V) có giấy tờ hợp lệ. Ngày 02/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh V.
Về trách nhiệm dân sự: anh Lê Quang V đã nhận lại xe 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số 99/CT.VKS-TN ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử về án phí hình sự sơ thẩm và vật chứng vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ơ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 01/7/2023, tại chốt thông tin tín hiệu ga tàu Dầu Giây thuộc khu phố Phan Bội Châu, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Lê Minh T có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 trị giá 4.830.000 đồng của anh Lê Quang V thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Như vậy, hành vi của Lê Minh T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “... Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
Do đó, Cáo trạng số 99/CT.VKS-TN ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Lê Minh T về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
3. Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, lẽ ra phải nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng bản thân, lao động để tạo ra của cải vật chất, giúp đỡ gia đình và xã hội nhưng do lười lao động bị cáo lại đi vào con đường phạm tội. Với động cơ vụ lợi cá nhân, bản chất lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động. Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 có trị giá 4.830.000đ (Bốn triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng) là tài sản của ông Lê Quang Cường (cha ruột anh V) có giấy tờ hợp lệ, nên cần thiết phải có mức hình phạt Ơ nghiêm khắc đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
4. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sư.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Như vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
5. Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…”. Tuy nhiên, do bị cáo hiện không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
7. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Lê Quang V đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
8. Về vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 60M2-6891, số máy HC09E-0009793, số khung 09013Y-009745 là tài sản của ông Lê Quang C (cha ruột anh V) có giấy tờ hợp lệ. Ngày 02/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh V nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Ơ
- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2023.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Thống Nhất; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Thống Nhất; - Chi cục THADS H. Thống Nhất; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lan |