- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thúy Ngh - Nguyễn Hoàng L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thúy Ngh và anh Nguyễn Hoàng L là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2023/HNGĐ-ST Ngày 29 – 6 – 2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phi Hùng
Ông Đặng Minh Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy Ngh, sinh năm 2002; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1988; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 15/02/2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thúy Ngh trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hoàng L tự nguyện chung sống với nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới năm 2020, không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh L không lo làm ăn, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã ly thân nhau cách nay 01 năm. Chị Ngh xác định không thể tiếp tục chung sống với anh L được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị và anh L không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Ngh xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ: Chị Ngh xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Hoàng L, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng anh L không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ngh, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thúy Ngh có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm; anh Nguyễn Hoàng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Ngh, anh L.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thúy Ngh và anh Nguyễn Hoàng L chung sống với nhau vào năm 2020, anh chị xác lập mối quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm chị Ngh vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh L. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Nguyễn Thúy Ngh với anh Nguyễn Hoàng L là vợ chồng.
Về con chung: Chị Ngh xác định chị và anh L không có con chung; đối với anh L không có ý kiến gì về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ngh xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh L không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thúy Ngh phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thúy Ngh và anh Nguyễn Hoàng L là vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thúy Ngh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003381 ngày 17/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; chị Ngh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Ngh, anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - THA huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |