vanban.org

Bản án 128/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc T được ly hôn với anh Lê Tấn T1.

[2]. Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Diệu Trang, sinh ngày 14/12/2021 cho chị Nguyễn Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Tấn T1 được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trân - Thành"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc T được ly hôn với anh Lê Tấn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 128/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-09-2023

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- T1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

2. Bà Trần Văn Bé Hai

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Không.

Trong ngày 05 tháng 09 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2023/TLST-HNGĐ, ngày 12/05/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31/07/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 16/08/2023 giữa các đương sự:

- Nguyeân ñôn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1992 (xin vắng)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Bò ñôn: Anh Lê Tấn T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 31/08/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T trình bày:

Vào năm 2020 qua mai mối, chị và anh Lê Tấn T1 có tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 18/12/2020.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống tại ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Do hôn nhân mai mối nên vợ chồng sống chung hạnh phúc kéo dài đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình và chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, hơn nữa anh T1 thường xuyên nhậu nhẹt về không lo cho làm ăn để chăm lo cho cuộc sống gia đình, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Do vậy từ tháng 01/2022 thì vợ chồng sống ly thân với nhau cho đến nay. Từ những nguyên nhân đó chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Tấn T1.

Về con chung: Khi ly hôn chị Nguyễn Ngọc T yêu cầu nuôi cháu Lê Ngọc Diệu T, sinh ngày 14/12/2021, chị rút lại yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, không cần anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lê Tấn T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.

- Ngày 31/07/2023, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T có đơn xin vắng mặt, chị có ý kiến trình bày: Chị yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Tấn T1. Về con chung: Khi ly hôn chị Nguyễn Ngọc T yêu cầu nuôi cháu Lê Ngọc Diệu Trang, sinh ngày 14/12/2021, chị rút lại yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”; bị đơn anh Lê Tấn T1 cư trú tại xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Lê Tấn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc T và anh Lê Tấn T1 qua mai mối rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 18/12/2020, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Nguyễn Ngọc T trình bày: Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống tại ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Do hôn nhân mai mối nên vợ chồng sống chung hạnh phúc kéo dài đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình và chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, hơn nữa anh T1 thường xuyên nhậu nhẹt về không lo cho làm ăn để chăm lo cho cuộc sống gia đình, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Do vậy từ tháng 01/2022 thì vợ chồng sống ly thân với nhau cho đến nay. Từ những nguyên nhân đó chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Tấn T1.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình, lo cho con cái phát triển về thể chất và tinh thần. Hiện tại vợ chồng chị T, anh T1 đã sống ly thân từ tháng 1/2022 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, từ đó cho đến nay vợ chồng vẫn không đoàn tụ được. Qua đó cho thấy hôn nhân của của chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2]. Về con chung: Chị Nguyễn Ngoc T khai có con chung với anh Lê Tấn T1 là cháu Lê Ngọc Diệu T2, sinh ngày 14/12/2021 và yêu cầu được nuôi con.

Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con” và khoản 3 Điều 81 quy định:“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”. Xét thấy cháu Lê Ngọc Diệu T2, sinh ngày 14/12/2021 dưới 36 tháng tuổi, hiện tại chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T là giao cháu cháu Lê Ngọc Diệu T2, sinh ngày 14/12/2021 cho chị Nguyễn Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh Lê Tấn T1 được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Ngọc T có yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án chị T đã rút lại yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng này, anh Lê Tấn T1 cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, khi nào có yêu cầu thì giải quyết trong vụ án khác.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc T khai chưa yêu cầu, anh Lê Tấn T1 cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 217, khoản 2 Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc T được ly hôn với anh Lê Tấn T1.

[2]. Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Diệu Trang, sinh ngày 14/12/2021 cho chị Nguyễn Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Lê Tấn T1 được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Nguyễn Ngọc T với số tiền 745.000đ/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi, do rút lại yêu cầu đối với anh Lê Tấn T1, không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0011452 ngày 12/05/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Chị Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ