vanban.org

Bản án 128/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H với bị đơn ông Đỗ Văn S về ly hôn:

Về hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Đỗ Văn S (Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 30-10-2012 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng). Về con chung tên Đỗ Tấn T đã thành niên, bà Trần Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết; ông Đỗ Văn S không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Trần Thị H với ông Đỗ Văn S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H với bị đơn ông Đỗ Văn S về ly hôn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2023/HNGĐ-ST
Ngày 01-12-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nhẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Hiệp

Bà Nguyễn Hồng Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 03-10-2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24-10-2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ nơi cư trú: Ấp B, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1975; địa chỉ nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28-8-2023, đơn đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt và trong quán trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày bà và ông Đỗ Văn S kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 30-10-2012). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân cho đến nay, hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay bà yêu cầu xin ly hôn với ông Đỗ Văn S. Về con chung bà và ông Đỗ Văn S có một con chung tên Đỗ Tấn T (sinh năm 2000) đã thành niên, bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản chung, nợ chung giữa bà và ông Đỗ Văn S không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Văn S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Đỗ Văn S vắng mặt không có lý do; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt không có lý do và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân cho bà Trần Thị H được ly hôn với ông Đỗ Văn S; về con chung đã thành niên, tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; tuyên án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H là vụ án hôn nhân và gia đình về“ly hôn” theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình; bị đơn ông ông Đỗ Văn S cư trú Ấp V, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện M thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa, bà H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông S được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Bà H và ông S kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 30-10-2012 là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo bà H trình bày từ năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Qua xác minh địa phương không nắm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ly hôn giữa bà H và ông S. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để đương sự gặp gỡ hòa giải các mâu thuẫn, đoàn tụ nhưng bà H vẫn kiên quyết xin ly hôn, ông S nhận văn bản của Toà án tống đạt thông báo về yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông nhưng ông vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện bà H và ông S sau khi ly thân thì mỗi người tự sống cuộc sống riêng, không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể hàn gắn được nữa, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được. Xét bà H yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà H trình bày bà và ông S có một con chung tên Đỗ Tấn T (sinh năm 2000) đã thành niên, bà không yêu cầu Toà án giải quyết. ông S không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông S không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 14 Điều 3, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H với bị đơn ông Đỗ Văn S về ly hôn:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Đỗ Văn S (Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 30-10-2012 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng).

- Về con chung tên Đỗ Tấn T đã thành niên, bà Trần Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết; ông Đỗ Văn S không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Đỗ Văn S không có ý kiến về vấn đề này gửi đến Tòa án, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010307 ngày 02-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ