vanban.org

Bản án 128/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho chị Châu Chúc X được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con: Giao người con Nguyễn Châu T, sinh ngày 02/02/2006 và Nguyễn Châu Gia T, sinh ngày 28/10/2016 cho chị Châu Chúc X tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Châu Chúc X yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-7-2023
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng, ông Lê Văn Lil.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Châu Chúc X, sinh năm 1982.

Địa chỉ: ấp BĐ, xã LĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1982.

Địa chỉ: ấp B2, xã LĐĐ, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị X vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11/5/2023, trong quá trình tố tụng chị Châu Chúc X trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh C chung sống vào năm 2003 trên tinh thần tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám theo phong tục tại địa phương và đến Ủy ban nhân dân xã LĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đăng ký kết hôn ngày 24/4/2006.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm sống, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau. Chị và anh C sống ly thân khoảng 04 năm, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không gặp lại để hòa giải mâu thuẫn. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn.

Về con: Chị và anh C có 03 người con chung là Nguyễn Chúc K, sinh ngày 06/7/2004 hiện nay đã thành niên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; người con Nguyễn Châu T, sinh ngày 02/02/2006; Nguyễn Châu Gia T, sinh ngày 28/10/2016 hiện đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết;

Anh Nguyễn Văn C vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Năm 2003, chị X và anh C tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị X và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị X và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị X được ly hôn với anh C là phù hợp.

Về con: Xét thấy người con Nguyễn Chúc K, sinh ngày 06/7/2004 hiện nay đã thành niên nên không xem xét.

Người con Nguyễn Châu T, sinh ngày 02/02/2006; Nguyễn Châu Gia T, sinh ngày 28/10/2016 hiện sống cùng chị X, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con; nguyện vọng của các con muốn sống cùng chị nên tiếp tục giao con cho chị X nuôi là phù hợp. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị X không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản: Chị X không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Châu Chúc X khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C, anh C có địa chỉ cư trú tại ấp B2, xã LĐĐ, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị X và anh C.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Năm 2003, chị X và anh C tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị X và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị X xác định mâu thuẫn giữa chị và anh C đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị X và anh C không thực hiện được mà phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân hơn 04 năm, trong khoảng thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh C đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị X và anh C đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị X được ly hôn với anh C là phù hợp.

. Về con: Xét thấy người con Nguyễn Chúc K, sinh ngày 06/7/2004 hiện nay đã thành niên nên không xem xét.

Khi ly hôn chị X yêu cầu được tiếp tục nuôi con người con Nguyễn Châu T, sinh ngày 02/02/2006 và Nguyễn Châu Gia T, sinh ngày 28/10/2016 hiện sống cùng chị, qua làm việc nguyện vọng của các con muốn sống cùng chị nên tiếp tục giao con cho chị X nuôi là phù hợp. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị X không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

. Về tài sản: Chị X không yêu cầu nên không xem xét.

. Về án phí: Chị X nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Châu Chúc X được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2. Về con: Giao người con Nguyễn Châu T, sinh ngày 02/02/2006 và Nguyễn Châu Gia T, sinh ngày 28/10/2016 cho chị Châu Chúc X tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị Châu Chúc X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Người con Nguyễn Chúc K, sinh ngày 06/7/2004 hiện nay đã thành niên nên không xem xét.

3. Về tài sản: Chị Châu Chúc X không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Châu Chúc X nộp 300.000 đồng, chị Châu Chúc X đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000263 vào ngày 09/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, chị Châu Chúc X, anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ