- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 2014; các Điều 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN G Bản án số: 128/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Nhàn.
2. Bà Đào Thị T Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ M, tỉnh An G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An G tham gia
phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ M xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 111/2023/TLST-
HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn,
tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/TLST-
HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số
227/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Cẩm T, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ 21, ấp Bình
Hòa Hạ, xã Thường Lạc, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng T; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp Thị 2, xã Hội
An, huyện Chợ M, tỉnh An G; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án
và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm T trình bày, sau thời gian tự tìm
hiểu chị và anh G được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2017 vợ chồng
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thường Thới Hậu B (nay là xã
Thường Lạc), huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng T. Vợ chồng sống chung đôi lúc cũng hay cãi vã, nguyên nhân phát sinh mâu Tẫn sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh G có hành vi bạo lực gia đình, có quan hệ với người phụ nữ bên ngoài, chị có khuyên nhưng anh G không sửa đổi, vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh G.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con
chung tên Nguyễn Mỹ Anh, sinh ngày 10/6/2018 hiện nay cháu Mỹ Anh sống chung với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mỹ Anh, không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Hà Thị Cẩm T xác định vợ chồng không có.
Về nợ chung: Chị Hà Thị Cẩm T xác định vợ chồng không có.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 10.8.2017 do Ủy ban nhân dân xã Thường Thới Hậu B (nay là xã Thường Lạc), huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng T; Giấy khai sinh của Nguyễn Mỹ Anh (bản sao).
- Anh Nguyễn Văn G đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong
suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, chị Cẩm T không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Chị Hà Thị Cẩm T, anh Nguyễn Văn G, kết hôn với nhau vào năm 2017,
có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã
Thường Thới Hậu B, huyện Hồng Ngự ngày 10/8/2017 là hôn nhân hợp pháp
được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Thời gian chung sống vợ chồng thường
xuyên mâu Tẫn, do không cùng quan điểm về tài chính, mâu Tẫn với gia đình
chồng, anh G thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực. Vợ chồng ly thân
từ năm 2020 đến nay, không tới lui thăm nhau. Nay, nhận thấy tình cảm không
còn nên chịT yêu cầu ly hôn với anh G.
Xét thấy, chị T xác định nguyên nhân mâu Tẫn là do không cùng quan
điểm trong vấn đề tài chính, chị T mâu Tẫn với gia đình chồng nhưng chồng
không tìm cách hàn gắn và có hành vi bạo lực đối với chị T mỗi khi uống rượu
về. Mặc khác, kể từ khi chị T yêu cầu ly hôn anh G không có ý kiến phản hồi,
không tạo điều kiện để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Chị T xác định không còn
tình cảm với anh G, kiên quyết ly hôn, nếu buộc chị T tiếp tục chung sống với
anh G sẽ không hạnh phúc nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp
nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh G.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Mỹ Anh, sinh ngày
10/6/2018, cháu Mỹ Anh đang sống với chị T. Sau khi ly hôn yêu cầu được tiếp
tục chăm sóc cháu Anh. Không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, hiện cháu Mỹ Anh đang sống với chị T đã ổn định về thể chất
và tinh thần. Để ổn định cuộc sống cho cháu Mỹ Anh, nên để chị T tiếp tục
chăm sóc nuôi dưỡng các cháu Mỹ Anh. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên
không đề cập đến.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.
Về nợ chung: Không có, nên không đề cập đến.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56,
81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hà Thị Cẩm T đối với anh Nguyễn
Văn G.
- Chị Hà Thị Cẩm T tiếp tục chăm sóc cháu Nguyễn Mỹ Anh, sinh ngày
10/6/2018. Anh Nguyễn Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Hà Thị cẩm T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn G cư trú
ấp Thị 2, xã Hội An, huyện Chợ M, tỉnh An G. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ M theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn G đã được triệu tập
hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh G theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Chị Hà Thị Cẩm T và anh Nguyễn Văn G tự nguyện kết hôn và có đăng
ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và G là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy, xuất phát từ mâu Tẫn trong thời gian chung sống, chị T với anh
G thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, anh G có hành vị bạo lực gia đình, có quan hệ với người phụ nữ bên ngoài và không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay. Cho nên, có căn cứ xác định mâu Tẫn giữa chị T và anh G là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh G theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Hà Thị Cẩm T xác định trong thời gian chung
sống vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Mỹ Anh, sinh ngày 10/6/2018 hiện nay cháu Mỹ Anh đang sống chung với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc, nuôi
dưỡng, cần xem xét đến điều kiện phát triển và nguyện vọng của con chung. Từ khi ly thân đến nay, cháu Mỹ Anh sống với chị T, cháu vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Mỹ Anh. Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao cháu Mỹ Anh cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng
nuôi con chung. Anh G cũng không có ý kiến phản hồi, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị Cẩm T xác định không
yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm,
T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hà Thị Cẩm T phải chịu
án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Anh Nguyễn Văn G không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014; các Điều 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Cẩm T.
1. Về hôn nhân: Chị Hà Thị Cẩm T được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.
Giấy chứng nhận kết hôn số 54 ngày 10.8.2017 do Ủy ban nhân dân xã
Thường Thới Hậu B (nay là xã Thường Lạc), huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng T cấp
cho chị Hà Thị Cẩm T với anh Nguyễn Văn G không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Chị Hà Thị Cẩm T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu
Nguyễn Mỹ Anh, sinh ngày 10/6/2018. Anh Nguyễn Văn G không phải cấp
dưỡng nuôi con.
Chị Hà Thị Cẩm T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản
trở anh Nguyễn Văn G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về tài sản chung: Chị Hà Thị Cẩm T xác định không yêu cầu Tòa án
xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Hà Thị Cẩm T xác định không có nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
Ghi nhận chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn
có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị T và anh G trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Hà Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai T tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013284 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ M, tỉnh An G cấp ngày 22 tháng 02 năm 2023; Chị Hà Thị Cẩm T đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Văn G không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Hà Thị Cẩm T có quyền
kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An G xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của anh Nguyễn Văn G được tính là 15 ngày kể
từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ M (2); - TAND tỉnh An G (1); - Chi cục THADS huyện Chợ M (1); - UBND xã Thường Thới Hậu B, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng T (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |