vanban.org

Bản án 128/2022/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.

2/ Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Vũ Ngọc T. 3/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng ngày 12/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Nghệ An). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị G ly hôn Vũ Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số:128/2022/ST – HNGĐ
Ngày 24 tháng 8 năm 2022
“V/v: Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH NGHỆ AN

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Hải Yến và bà Nguyễn Thị Minh Thi.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Hiếu Thảo – Kiểm sát viên

Ngày 24/8/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2022/TLST – HNGĐ ngày 12/7/2022 về việc “Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 10/8/2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G – Sinh năm: 1992

Trú tại: Thôn 8, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T – Sinh năm: 1988

Trú tại: Thôn 8, xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện P – Xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An

- Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị G vắng mặt, nhưng trong đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2022 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị G trình bày:

Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Ngọc T kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau. Ngoài ra anh T thường xuyên lâm vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, mặc dù chị G có khuyên bảo để anh T sửa chữa. Tuy nhiên, anh T không những không sữa chữa mà còn tiếp tục lâm vào tệ nạn nghiện hút ma túy nên phải đi cai nghiện. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân giữa chị G và anh T không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị G đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh T.

Về con chung: Không có con chung.

Về tài sản chung và nợ: Không có tài sản chung gì và không nợ ai, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Ngọc T vắng mặt, nhưng tại bản tự khai cũng như biên bản lấy lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Ngọc T trình bày:

Anh Vũ Ngọc T và chị Nguyễn Thị G kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung vợ chồng sau khi kết hôn hạnh phúc được một thời gian đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau, trong cuộc sống không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay chị G yêu cầu được ly hôn với anh T thì anh T đồng ý.

Về con chung: Không có con chung

Về tài sản chung và nợ: Không có tài sản chung gì và không nợ ai, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về vụ án và về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình điều tra, hòa giải và xét xử. Nhìn chung vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn với anh Vũ Ngọc T

Về con chung, tài sản chung và nợ: Không.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luât.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Yêu cầu ly hôn” mà bị đơn cư trú tại xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An, hiện nay đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện P, xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An. Nên Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Ngọc T kết hôn với nhau vào năm 2013 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau. Ngoài ra anh T thường xuyên lâm vào các tệ nạn xã hội, mặc dù chị G có khuyên bảo để anh T sửa chữa. Tuy nhiên, anh T không những không sữa chữa mà còn tiếp tục lâm vào tệ nạn nghiện hút ma túy nên đã bị TAND huyện A, tỉnh Nghệ an áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân giữa chị G và anh T không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị G đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T thống nhất ly hôn theo yêu cầu của chị G. Tuy nhiên, hiện tại anh T đang chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc nên không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án được nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Xét thấy mục đích của hôn nhân vợ chồng là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững trên cơ sở cùng nhau chăm lo cuộc sống. Nhưng giữa chị G và anh T đã bỏ mặc nhau, không yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Do đó hôn nhân giữa chị G và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình và cũng như phù hợp với ý kiến của anh T là đồng ý ly hôn chị G.

. Về con chung: Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Ngọc T không có con chung.

. Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Ngọc T không có tài sản chung gì và không nợ ai.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.

2/ Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Vũ Ngọc T.

3/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp 300.000 đồng ngày 12/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Nghệ An).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ