vanban.org

Bản án 128/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 05 mảnh nhựa; 01 con dao dài 55cm, lưỡi bằng kim loại gỉ sét dài 39cm, cán bằng gỗ dãi 16cm, bản lưỡi rộng nhất 5,5cm đã qua sử dụng (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TN, TH phố Hải Phòng). Về án phí:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
TH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2022/HS-ST
Ngày 14-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, TH PHỐ HẢI PHÒNG

- TH phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng

Ông Hoàng Đắc Hân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, TH phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, TH phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TN, TH phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Nguyễn Văn M, sinh năm 1988 tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ dân phố QT, thị trấn MĐ, huyện TN, TH phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đạm (đã chết) và bà Lê Thị Ngà; có vợ Lê Thị Oanh, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 155/2005/HSST ngày 26/8/2005 của TAND TH phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp tài sản (M chấp hành xong án phạt tù và thi hành xong án phí HSST ngày 13/6/2006, đã xóa án tích); Bản án số 139/2011/HSST ngày 29/9/2011 của TAND huyện TN xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (M thi hành xong án phí HSST ngày 09/8/2016, chấp hành xong án phạt tù ngày 09/9/2013, đã xóa án tích); Bản án số 69/2016/HSST ngày 28/4/2016 của TAND huyện TN xử phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản (M thi hành xong án phí HSST ngày 05/5/2016, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/11/2017, đã xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 15/9/2022; có mặt.

2. Bị cáo: Bùi Văn H, sinh năm 1992 tại TH phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố QT, thị trấn MĐ, huyện TN, TH phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Quý và bà Trịnh Thị Nha; chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: 01: Theo Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 16/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện TN áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Gia Minh đối với H và ngày 20/9/2021 bị cáo chấp hành xong; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 12/9/2022; có mặt.

- Bị hại:

Anh Nguyễn Văn TH, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố Bạch Đằng, thị trấn MĐ, huyện TN, TH phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M: Bà Đoàn Thị Huế - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước TH phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h30 phút, ngày 30/4/2022, anh Nguyễn Văn TH, sinh năm 1982, ở tổ dân phố Bạch Đằng, thị trấn MĐ, huyện TN, TH phố Hải Phòng điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-621.19 trên đường Bạch Đằng thuộc tổ dân phố QT, thị trấn MĐ thì gặp Nguyễn Văn M điều khiển xe mô tô phía trước cùng chiều lạng lách, đánh võng trước đầu xe ô tô của anh TH. Thấy vậy, anh TH hạ kính ô tô và nói “mày thích chết à”, M đáp “tao đang thích chết đây”, sau đó anh TH điều khiển xe ô tô vượt qua rồi đi tiếp. Lúc này, M điều khiển xe mô tô vào quán tạp hóa của ông Bùi Đức Kỳ, sinh năm 1973 ở thị trấn MĐ, huyện TN mua 02 con dao (dạng dao bài, dài khoảng 40cm, cán gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại sắc, bản rộng nhất khoảng 07cm) rồi quay lại để chờ chặn đánh anh TH. Khoảng 15 phút sau, anh TH điều khiển xe ô tô đi đến thì M dùng xe mô tô dựng đỗ, hai tay cầm hai con dao chặn xe ô tô của anh TH lại. Tại đây, M yêu cầu anh TH xuống xe để nói chuyện nH anh TH vẫn ngồi trong xe, không ra nên M lao vào dùng dao chém nhiều nhát vào gương chiếu hậu, kính xe, TH xe bên lái của anh TH, thấy vậy anh TH điều khiển xe ô tô vượt lên trên khoảng 20m rồi dừng xe, hạ kính lời qua tiếng lại với M. Thấy vậy, ông Phạm Văn Đường, sinh năm 1955 ở thị trấn MĐ là bảo vệ khu phố đi ra can ngăn, lấy được 02 con dao trên tay M rồi đi vào lề đường. Lúc này, Bùi Văn H (là bạn của M) đi đến liền giằng 02 con dao mà ông Đường vừa lấy được từ M chạy đến chém nhiều nhát vào khu vực gương chiếu hậu, kính chắn gió, TH xe bên phải xe ô tô của anh TH, cùng lúc này M cũng chạy tới, H đưa cho M 01 con dao rồi cả hai tiếp tục dùng dao chém nhiều nhát vào xe ô tô của anh TH, thấy vậy, anh TH điều khiển xe ô tô bỏ chạy. Sau khi dùng dao chém, đập phá xe ô tô M và H đã vứt hai con dao vào khu vực rìa đường gần đó rồi bỏ đi.

Sau khi bị M, H dùng dao đập phá xe ô tô, anh TH đã kể lại cho Nguyễn TH Công, sinh năm 1983 ở thị trấn MĐ, huyện TN (là em trai ruột của anh TH) biết sự việc, Nguyễn TH Công lấy 01 con dao phay dài khoảng 60cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại sáng màu rồi điều khiển xe mô tô đi tới nhà M để nói chuyện. Lúc này tại nhà M còn Bùi Văn H và Vũ Văn Tài, sinh năm 1993 ở thị trấn MĐ, huyện TN. Tại đây, Công và H lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau, sau đó Công cầm dao xông đến chém 02 nhát vào khu vực cẳng tay phải của H và chém 02 nhát vào khu vực vai trái và cẳng tay trái của Tài rồi bỏ đi. H và Tài bị chém thương tích đã được đưa đi điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng.

Cùng ngày, anh TH lên Công an thị trấn MĐ trình báo sự việc bị M, H đập phá xe ô tô; Ngày 02/5/2022, H, Tài có đơn trình báo về việc bị Công chém gây thương tích.

Sau khi nhận được tin báo Cơ quan Công an tiến hành khám nghiệm hiện trường tại khu vực đập phá xe ô tô biển kiểm soát 15A-621.19 thu giữ: 05 mảnh nhựa (gồm: 01 mảnh sơn màu đỏ, kích thước (26 x 15)cm, bề mặt có đám trượt xước diện (6,5 x 0,5)cm; 01 mảnh sơn màu đỏ, kích thước (26 x 15)cm, bị gãy nứt, bề mặt có đám trượt xước diện (6 x 1)cm; 01 mảnh sơn màu đỏ kích thước (12,5 x 3)cm, bề mặt có đám trượt xước diện (3 x 4)cm; 01 mảnh sơn màu đen kích thước (26 x 10)cm, bề mặt có chữ “mazda”; 01 mảnh sơn màu đen bị gãy vỡ kích thước (14 x 9)cm, bề mặt có dòng chữ “ASA); 01 xe ô tô BKS 15A-621.19.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường khu vực Nguyễn TH Công dùng hung khí chém gây thương tích cho Bùi Văn H và Vũ Văn Tài, thu giữ dấu vết tạp chất màu nâu đỏ (nghi máu).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn TH Công khai nhận phù hợp với nội dung trên. Công tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 con dao dài 55cm, lưỡi bằng kim loại gỉ sét dài 39cm, cán bằng gỗ dài 16cm, bản lưỡi rộng nhất 5,5cm. Khi giao nộp Công trình bày: sau khi chém H và Tài thấy con dao có máu nên Công đã rửa và cất đi nay Công mang đến giao nộp cho cơ quan Công an. Sau đó, tại Cơ quan điều tra, Công khai nhận do con dao dùng để chém H, Tài, Công đã vứt đi nên Công lấy 01 con dao khác để giao nộp cho cơ quan Công an.

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Văn M, Bùi Văn H, Nguyễn TH Công đều không thu giữ được gì.

Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm tang vật là 01 con dao do Công dùng chém H, Tài và 02 con dao của M dùng để đập phá xe ô tô BKS 15A-621.19 nH không thu giữ được.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện TN kết luận: Chi phí phụ tùng thay thế, công sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 15A-621.19 là 11.495.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 255/2022/TgT ngày 14/6/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của Bùi Văn H: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do sẹo vết thương liền vết phẫu thuật mặt trước 1/3 dưới cẳng tay phải gây nên là 03%; Tổn thương đứt bán phần gân gấp cổ tay trụ, đứt một phần cơ vùng cẳng tay trước bên phải đã được khâu nối phục hồi nên chỉ tính tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sẹo vết thương phần mềm; Tổn thương đứt nhánh động mạch trụ phải ra da đã được thắt nhánh động mạch, không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong Thông tư 22 của Bộ y tế nên không có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể; Tổn thương xước bao thần kinh trụ chưa ổn định, biên độ dẫn truyền vận động cảm giác thần kinh trụ bên phải còn giảm nhẹ so với bên trái nên chưa có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích số 425/2022/TgT ngày 25/8/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của Bùi Văn H: Tổn thương xước bao thần kinh trụ phải đã ổn định, không thấy tổn thương trên điện cơ, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 256/2022/TgT ngày 14/6/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của Vũ Văn Tài: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do sẹo vết thương liền vết phẫu thuật mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái gây nên là 03%; Tổn thương đứt gân dạng dài ngón cái, đứt gân duỗi ngắn ngón cái đã được khâu nối phục hồi nên chỉ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương phần mềm. Tổn thương đứt nhánh nông thần kinh quay trái đã ổn định, không thấy bất thường trên bản ghi điện cơ nên không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể; Sẹo vết thương vùng trên vai trái không được ghi nhận ban đầu trong hồ sơ bệnh án nên không có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Kết luận giám định số 72/KL-KTHS(SH) ngày 12/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TH phố Hải phòng kết luận: Trên con dao do Nguyễn TH Công giao nộp không có mẫu máu; Mẫu dấu vết tạp chất mùa nâu đỏ thu giữ tại hiện trường là máu của Bùi Văn H.

Ngày 25/7/2022, Bùi Văn H và Vũ Văn Tài có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích đối với Nguyễn TH Công và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M, Bùi Văn H khai nhận toàn bộ hành vi dùng dao chém, đập phá xe ô tô của anh Nguyễn Văn TH phù hợp với nội dung như trên và bị hại là anh Nguyễn Văn TH khai nhận việc bị M và H dùng dao đập phá xe ô tô phù hợp dung nêu trên. M và H đã bồi thường toàn bộ thiệt hại sửa chữa xe ô tô, anh TH không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho M và H.

- Vật chứng của vụ án: 05 mảnh nhựa; 01 con dao dài 55cm, lưỡi bằng kim loại gỉ sét dài 39cm, cán bằng gỗ dãi 16cm, bản lưỡi rộng nhất 5,5cm, chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện TN quản lý.

Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 15A-621.19, tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu Hà, sinh năm 1991 ở tổ dân phố QT, thị trấn MĐ, huyện TN nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Hà.

- Về dân sự: Nguyễn Văn M và Bùi Văn H đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn TH 11.000.000 đồng, anh TH không có yêu cầu bồi thường thêm.

Bản cáo trạng số 139/CT-VKSTN ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, TH phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).

- Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, TH phố Hải Phòng đã truy tố.

Bị hại là anh Nguyễn Văn TH vắng mặt tại phiên tòa nH có lời khai việc bị M và H dùng dao đập phá xe ô tô phù hợp dung nêu trên. Các bị cáo cùng bị hại thống nhất và bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền 11.000.000 đồng cho bị hại và bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, TH phố Hải Phòng trình bày luận tội đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm b, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm d Khoản 1 Điều 52; Điều 38; 17; 58 của Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo H đề nghị áp dụng thêm điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2022; xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 05 mảnh nhựa; 01 con dao dài 55cm, lưỡi bằng kim loại gỉ sét dài 39cm, cán bằng gỗ dãi 16cm, bản lưỡi rộng nhất 5,5cm. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M trình bày quan điểm bào chữa như sau:

Người bào chữa thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung vụ án, tội danh, điều luật áp dụng cho bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cũng như đánh giá vai trò đồng phạm giản đơn của bị cáo M. Tuy nhiên, bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng bột phát, nhất thời mặc dù bị cáo M có vi phạm pháp luật khi tham gia giao thông nH xuất phát từ những lời lẽ qua lại của hai bên là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Bị cáo M đã thể hiện ăn năn, hối cải và bản thân M trực tiếp bồi thường thiệt hại cho bị hại và số tiền thiệt hại là không lớn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thiệt hại không lớn cho các bị cáo được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS đồng thời hoàn cảnh gia đình bị cáo là hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo M.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày quan điểm tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là gây thiệt hại không lớn cho các bị cáo được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS bởi vì số tiền thiệt hại theo Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện TN kết luận: Chi phí phụ tùng thay thế, công sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 15A-621.19 là 11.495.000 đồng, thiệt hại tài sản là trên 10.000.000 đồng nên không được coi là gây thiệt hại không lớn và đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TN và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp

Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an huyện TN, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TN và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 30/4/2022, bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Văn H đã thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng xe ô tô mang biển kiểm soát 15A-621.19 của bị hại gây thiệt hại cho tài sản trị giá là 11.495.000 đồng. Do đó các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H đã phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Văn H đã 01 lần có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản gây thiệt hại cho tài sản của bị hại trị giá 11.495.000 đồng nên đã phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, TH phố Hải Phòng truy tố và đề nghị kết tội các bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Văn H về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng điều luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tính chất và mức độ tham gia phạm tội, nhân thân của từng bị cáo nhằm răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tính chất và mức độ tham gia phạm tội, nhân thân của từng bị cáo và quyết định hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khi phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau: Các bị cáo thực hiện hành vi thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ”được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại và người phạm tội TH khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo; Nguyễn Văn M có ông nội là ông Nguyễn Văn Châu được Nhà nước tặng Bằng khen cho gia đình ông Nguyễn Văn Châu đã góp công sức trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc số 452 ngày 18/5/1964 và có 02 bác ruột là: Nguyễn Đức Thạch; Nguyễn Văn Vĩnh là thương binh hạng 4/4 loại A theo Giấy chứng nhận thương binh số 31541 TNT ngày 15/3/2017 và số 10414 ngày 15/3/2017 đều quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, các bị cáo được hưởng b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo H còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nên cần phải xét đến tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn M là đầu tiên vô cớ trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Bùi Văn H là người thực hành tích cực, trực tiếp. Vì vậy bị cáo Nguyễn Văn M có vai trò cao hơn bị cáo Bùi Văn H.

Về nhân thân: Khi phạm tội bị cáo M mặc dù không có tiền án nH từng bị xét xử theo những bản án sau: Bản án số 155/2005/HSST ngày 26/8/2005 của TAND TH phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp tài sản (M chấp hành xong án phạt tù và thi hành xong án phí HSST ngày 13/6/2006, đã xóa án tích); Bản án số 139/2011/HSST ngày 29/9/2011 của TAND huyện TN xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (M thi hành xong án phí HSST ngày 09/8/2016, chấp hành xong án phạt tù ngày 09/9/2013, đã xóa án tích); Bản án số 69/2016/HSST ngày 28/4/2016 của TAND huyện TN xử phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản (tái phạm bởi bản án 139), trị giá tài sản chiếm đoạt là 100.000 đồng (M thi hành xong án phí HSST ngày 05/5/2016, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/11/2017, đã xóa án tích) và bị cáo H có 01 tiền sự thể hiện tại: Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 16/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện TN áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Gia Minh đối với H. Ngày 20/9/2021 bị cáo đã chấp hành xong (Chưa xóa) nên các bị cáo bị nhận định là có nhân thân xấu.

Từ những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Văn H cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội 01 thời gian để cải tạo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo Nguyễn Văn M, Bùi Văn H còn có thể bị phạt tiền nH xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền 11.000.000 đồng cho bị hại và bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì khác, các bị cáo không có ý kiến gì thêm nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xác định 05 mảnh nhựa; 01 con dao dài 55cm, lưỡi bằng kim loại gỉ sét dài 39cm, cán bằng gỗ dãi 16cm, bản lưỡi rộng nhất 5,5cm đã qua sử dụng là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong vụ án này Cơ quan điều tra Công an huyện TN đã thu giữ đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 15A-621.19, tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu Hà, sinh năm 1991 ở tổ dân phố QT, thị trấn MĐ, huyện TN nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Hà.

Nguyễn TH Công có hành vi dùng dao chém gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 03% đối với Bùi Văn H và 03% đối với Vũ Văn Tài. Tuy nhiên, H và Tài đều có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công nên Công an huyện TN đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm d Khoản 1 Điều 52, Điều: 38; 17; 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2022.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điểm b, s, i Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm d Khoản 1 Điều 52, Điều: 38; 17; 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 05 mảnh nhựa; 01 con dao dài 55cm, lưỡi bằng kim loại gỉ sét dài 39cm, cán bằng gỗ dãi 16cm, bản lưỡi rộng nhất 5,5cm đã qua sử dụng (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TN, TH phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ