- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:128/2022/HS - ST Ngày: 15-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Xuân Sớm
Ông Trần Văn Nam
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: ông Phạm Công H2g - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2022/TLST
- HS ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2022/HSST - QĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; sinh ngày 08/6/1996, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu 1, phường ĐT, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Đinh Thị D; vợ: Trần Thị Xuân M; con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018; con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt trong Tr hợp khẩn cấp và tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2022, đến ngày 18/8/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Mạc Xuân Tr; sinh năm 1960; nơi cư trú: khu phố 1, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Kim Đình Ch, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn YL 3, xã ĐV, huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn T; sinh năm 1987; địa chỉ: khu 1, phường ĐT, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
- Người làm chứng: anh Vũ Xuân H2, anh Phạm Quốc Kh, anh Đinh Văn H2g; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết ông Mạc Xuân Tr có một thùng container được cải tạo thành nhà ở để trông coi vườn rừng tại khu vực đồi keo, thuộc thôn Trung Lương, xã Tràng Lương, thị xã ĐT, nH từ khoảng thời gian tháng 11 năm 2021 đến nay không có ai quản lý và trông coi nên Nguyễn Văn H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc thùng container để bán lấy tiền ăn tiêu.
Khoảng tháng 5 năm 2022, H đi vào khu vực để chiếc thùng container, dùng điện thoại chụp ảnh chiếc thùng container trên rồi đăng lên mạng xã hội“Facebook” kèm theo số điện thoại liên lạc để tìm khách mua. Cũng trong thời gian này, do có nhu cầu mua 01 (một) chiếc thùng container để làm nhà xưởng nên thông qua mạng xã hội Facebook, anh Kim Đình Ch biết tin và liên lạc với H để mua thùng container. Anh Ch và H thỏa thuận giá bán chiếc thùng container là 64.000.000đ (sáu mươi tư triệu đồng), anh Ch là người thuê xe đầu kéo để vận chuyển, còn H sẽ thuê xe cẩu tự hành để cẩu chiếc container trên lên xe đầu kéo để vận chuyển về cho anh Ch, việc thanh toán giữa anh Ch và H bằng hình thức chuyển khoản.
Sáng ngày 14/5/2022, H dùng điện thoại gửi vị trí địa điểm nơi để thùng container cho anh Ch, anh Ch thuê anh Vũ Xuân H2 điều khiển xe đầu kéo đến thôn Trung Lương, xã Tràng Lương, thị xã ĐT để vận chuyển chiếc thùng container. Còn H gọi điện thoại cho anh Phạm Quốc Kh để thuê xe cẩu tự hành, anh Kh giao cho anh Đinh Văn H2g (là lái xe) điều khiển xe cẩu tự hành liên lạc với H để biết vị trí và thực hiện giao dịch cẩu thùng contenner.
Khoảng 08 giờ ngày 14/5/2022, H đón xe ôm của một người đàn ông không quen biết tới khu vực vườn rừng của ông Mạc Xuân Tr để đợi. Khi xe đầu kéo do anh H2 điều khiển và xe cẩu của anh H2g điều khiển đến vị trí đặt chiếc thùng container, theo sự chỉ dẫn của H, anh H2g điều khiển xe cẩu tự hành cẩu chiếc thùng container đặt lên xe đầu kéo của anh H2. Sau đó H gọi điện thông báo cho anh Ch biết việc đã cẩu container xong, anh Ch liền chuyển khoản trả cho H 64.000.000đ (sáu mươi tư triệu đồng). H chuyển khoản thanh toán tiền thuê xe cẩu cho anh H2g 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó anh H2 vận chuyển chiếc thùng container về xưởng của anh Ch tại thôn YL 3, xã ĐV, huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc. Số tiền còn lại, H đi đến cửa hàng của anh Nguyễn Văn T để đổi sang tiền mặt bằng cách chuyển tiền từ tài khoản của H sang tài khoản của anh T, sau đó anh T đưa tiền mặt cho H. H đã sử dụng hết số tiền trên.
Đến ngày 24/6/2022, phát hiện chiếc thùng container bị mất trộm nên ông Tr đã trình báo cơ quan Công an. Ngày 07/7/2022, Nguyễn Văn H bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã ĐT giữ người trong Tr hợp khẩn cấp. Ngày 09/7/2022 anh Kim Đình Ch đã tự nguyện giao nộp chiếc thùng container trên cho cơ quan điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 15 ngày 15/7/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã ĐT, kết luận: 01 (một) thùng container loại 40 feet màu ghi xám đã được cải tạo thành nhà ở có kích thước (12,192 m x 2,438 m x 2,896m) có trị giá là 74.520.000đ (bảy mươi tư triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Ngày 03/8/2022, cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, Nguyễn Văn H cùng gia đình đã bồi thường cho anh Kim Đình Ch 69.000.000đ (sáu mươi chín triệu đồng) là tiền anh Ch mua và chi phí vận chuyển chiếc container; bồi thường cho ông Mạc Xuân Tr 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền thuê vận chuyển chiếc thùng container. Anh Ch và ông Tr đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì khác. Ông Tr có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn H khai: chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc khi thỏa thuận bán tài sản và thuê phương tiện vận chuyển container của anh Tr bị cáo đã làm rơi trong một lần đi làm trong rừng. Sau đó, bị cáo đã mua điện thoại và sim khác để dùng.
Bị hại anh Mạc Xuân Tr vắng mặt tại phiên tòa nH có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: gia đình anh trồng rừng tại thôn Trung Lương, xã Tràng Lương, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Tháng 10/2019, anh có mua một chiếc container đặt ở khu vực đất rừng để làm lán bảo vệ. Anh không giao cho ai trông coi chiếc container mà chỉ xây tường rào bao quanh, có cổng khóa. Ngày 24/6/2022, anh vào khu đất rừng của mình và phát hiện chiếc container bị mất. Anh đã trình báo cơ quan Công an. Sau đó, anh được nhận lại tài sản nguyên vẹn, số tiền thuê xe cẩu hạ container bị cáo H và gia đình cũng bồi thường đầy đủ cho anh, anh không có yêu cầu gì thêm. Anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Kim Đình Ch vắng mặt tại phiên tòa nH có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: ngày 14/5/2022 anh có mua một thùng container tại thị xã ĐT tỉnh Quảng Ninh của một người có tài khoản facebook “Nguyễn Văn” với giá 64.000.000 đồng. Người này nói với anh là tài sản của anh ta, nên anh đồng ý mua và thuê xe đầu kéo để chở chiếc container về chỗ của anh. Ngày 09/7/2022, khi cơ quan Công an thị xã ĐT đến thông báo chiếc container trên là tài sản trộm cắp thì anh đã bàn giao lại cho cơ quan điều tra. Hiện tại, bị cáo H và gia đình đã bồi thường cho anh toàn bộ số tiền 69.000.000đ (sáu mươi chín triệu đồng) là tiền anh mua và chi phí vận chuyển chiếc container nên anh không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 123/CT- VKS - ĐT ngày 28-10-2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 - 27 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 48 - 54 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15 tháng 12 năm 2022).
+ Về hình phạt bổ sung: bị cáo có H2 cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: đã được xử lý tại giai đoạn điều tra nên không đề cập xử lý
+ Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và gia đình đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại giai đoạn điều tra nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội đối với bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, với biên bản khám nghiệm hiện Tr do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT lập hồi 09 giờ 50 phút ngày 07/7/2022, biên bản xác định hiện Tr, bản ảnh xác định hiện Tr, với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 14/5/2022, tại khu vực đồi keo thuộc thôn Trung Lương, xã Tràng Lương, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc thùng container loại 40 feet màu ghi xám đã được cải tạo thành nhà ở có trị giá 74.520.000đ (bảy mươi tư triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) của ông Mạc Xuân Tr.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây ảnh hưởng đến kinh tế của người bị hại, tạo nên T lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe và H2 toàn đủ khả năng nhận thức được những việc làm đúng sai của bản thân, lẽ ra bị cáo phải chịu khó lao động, tu chí làm ăn tạo ra của cải vật chất xây dựng cuộc sống nH do thiếu sự tu dưỡng đạo đức và thái độ chấp hành pháp luật còn hạn chế, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên khi thấy tài sản sơ hở đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để phục vụ lợi ích cá nhân của mình. Đồng thời, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện một cách công khai, thể hiện sự liều lĩnh của bị cáo để đạt được mục đích của mình. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là ông Đinh Công Trượng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, bà ngoại Nguyễn Thị Bẻo được tặng kỷ niệm chương, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: do tài sản đã trả lại cho bị hại, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý. Ơ
Những tình tiết khác trong vụ án:
Đối với các anh Kim Đình Ch, Vũ Xuân H2, Đinh Văn H2g là người đã mua và vận chuyển thuê chiếc thùng container của Nguyễn Văn H nH không biết tài sản do H phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với anh Nguyễn Văn T là người đã nhận tiền từ tài khoản và đổi tiền mặt cho H, nH anh T không biết nguồn gốc số tiền của H do đâu mà có nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Văn H sử dụng để liên lạc khi thỏa thuận bán tài sản và thuê phương tiện vận chuyển, theo H khai đã bị mất nên không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15 tháng 12 năm 2022).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường ĐT, thị xã ĐT giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường ĐT, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong Tr hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh” số 17/2022/QĐBL – TA ngày 03/11/2022 và “tạm hoãn xuất cảnh” số 257/2022/QĐTHXC - TA ngày 03/11/2022 của Tòa án nhân dân thị xã ĐT đối với bị cáo Nguyễn Văn H kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT; - Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐT; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THA DS Thị xã ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ, VP./. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Như Quỳnh |