- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ph m Văn C và Nguyễn Văn N; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 232/2021/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2022/HS-PT Ngày 15-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.
Các Thẩm phán: Ông Lê Quân Vương;
Bà Nguyễn Thị Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hồ Minh Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2022 t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 69/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo Ph m Văn C và Nguyễn Văn N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 232/2021/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Ph m Văn C sinh năm 1984 t i tỉnh Bình Định; nơi cư trú: khu phố K, phường T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Ph m Văn C (C1) và bà Nguyễn Thị L; có vợ là bà Trần Thị H và 03 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: Quyết định số 133/QĐ-CATU ngày 04/7/2018 của Công an thị xã T tỉnh Bình Dương xử ph t vi ph m hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh b c (chấp hành xong ngày 04/7/2018); bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 21/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
2. Nguyễn Văn N sinh năm 1984 t i tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: tổ 5 khu phố K phường T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn L và bà Đỗ Thị S; có vợ là bà Mai Thị Ngọc G và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: Quyết định số 135/QĐ-CATU ngày 04/7/2018 của Công an thị xã T tỉnh Bình Dương xử ph t vi ph m hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh b c (chấp hành xong ngày 04/7/2018); bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:
1. Huỳnh Văn B (tên gọi khác G) sinh năm 1970 t i tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: tổ 5 khu phố K phường T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ là bà Nguyễn Thị D và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Quốc V sinh năm 1990 t i tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố P phường T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công Đ và bà Trần Thị T; có vợ là bà Huỳnh Cẩm T và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
3. Nguyễn Văn H sinh năm 1967 t i tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố K phường K thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Trương Thị L (đã chết); có vợ là Bùi Thị N và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
4. Nguyễn Phúc T sinh năm 1973 t i tỉnh T; nơi cư trú: khu phố P, phường T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là bà Trần Thị Lệ V và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
5. Nguyễn Công T (T1) sinh năm 1975; nơi cư trú: tổ 5 khu phố K, phường T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị S; có vợ là bà Cao Thị D và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Văn B và Huỳnh Văn G là anh em ruột. B và G có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Văn H Nguyễn Phúc T Nguyễn Công T, Nguyễn Văn N Nguyễn Quốc V và Ph m Văn C.
Khoảng 10 giờ ngày 17/11/2020 Nguyễn Công T Nguyễn Phúc T, Nguyễn Quốc V Nguyễn Văn H Huỳnh Văn G, Nguyễn Văn N, Ph m Văn C đi đến nhà của Huỳnh Văn B t i khu phố K phường T thị xã T tỉnh Bình Dương để chơi. Khi đến nhà của B, T1 cùng với T V H G N C ngồi chơi t i bàn ghế đá đặt phía trước nhà của B. Trong lúc ngồi chơi thì cả nhóm rủ nhau đánh b c được thua bằng tiền theo hình thức đánh bài binh xập xám thì tất cả đồng ý. B T1 T V H G N C sử dụng 01 bộ bài tây cũ có sẵn ở nhà B để đánh b c mỗi ván đặt cược 100.000 đồng. Khi đánh b c N và T chơi cùng một tụ bài V và H cùng một tụ T1 và G cùng một tụ B và C chơi cùng một tụ bài. Trong quá trình đánh b c thì V nhờ một người bán vé số d o (không rõ lai lịch) đi mua dùm 02 bộ bài tây 52 lá thì người này đồng ý và đi mua bài tây đưa cho V. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày khi B T1 T G V H N và C đang đánh b c thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tỉnh Bình Dương tuần tra bắt quả tang. Khi Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt quả tang thì tất cả bỏ ch y và vứt bỏ l i tiền đánh b c t i chiếu b c. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành truy bắt được B T1 T V H N, G. Riêng C thì ch y thoát nhưng đến ngày 21/11/2020 C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bình Dương đầu thú.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành thu giữ t i chiếu b c số tiền 7.800.000 đồng 01 bộ bài tây lo i 52 lá đã qua sử dụng 02 bộ bài tây lo i 52 lá chưa sử dụng và đưa B T1, T, V, H, N, G về trụ sở Công an phường T lập biên bản bắt người ph m tội quả tang thu giữ vật chứng đồ vật liên quan gồm:
Số tiền 11.200.000 đồng do Nguyễn Văn N giao nộp.
Số tiền 6.000.000 đồng do Huỳnh Văn G giao nộp.
Số tiền 16.600.000 đồng do Nguyễn Phúc T giao nộp.
Số tiền 5.000.000 đồng do Nguyễn Văn H giao nộp.
Số tiền 8.300.000 đồng do Nguyễn Quốc V giao nộp.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận cụ thể như sau:
Huỳnh Văn B khai nhận: tham gia đánh b c được thua bằng tiền với hình thức chơi bài binh xập xám cùng với T1, T, G, V, H, N, C t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. Khi tham gia đánh b c B sử dụng 6.000.000 đồng để đánh b c B và C hùn tiền chơi chung một tụ mỗi người bỏ ra trước 1.000.000 đồng để đánh b c. Số tiền đánh b c B để t i vị trí ngồi khi bị bắt thì B bỏ ch y và bỏ l i số tiền lấy ra trước để đánh b c t i chiếu b c, còn 5.000.000 đồng B bỏ trong người nhưng trong lúc bỏ ch y bị rơi vị trí nào không rõ.
Ph m Văn C khai nhận: tham gia đánh b c được thua bằng tiền với hình thức chơi bài binh xập xám cùng với T1, T, G, V, H, N, B t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. C mang theo và sử dụng 3.000.000 đồng để đánh b c C và B hùn tiền chơi chung một tụ mỗi người bỏ ra trước 1.000.000 đồng để đánh b c. Số tiền đánh b c để t i vị trí ngồi số tiền 2.000.000 đồng còn l i C kẹp ở ngón chân khi bị bắt thì C bỏ ch y và bỏ l i toàn bộ số tiền sử dụng để đánh b c t i chiếu nên không rõ thắng hay thua. Đến ngày 21/11/2020, C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đầu thú.
Nguyễn Quốc V khai nhận: tham gia đánh b c được thua bằng tiền cùng với T1, T, G, H, N, C, B t i bàn ghế đá phía trước nhà của Huỳnh Văn B. V mang theo số tiền 11.800.000 đồng sử dụng 3.500.000 đồng trong số tiền mang theo để đánh b c số tiền 8.300.000 đồng không sử dụng đánh b c V để trong người. Khi đánh b c V hùn tiền đánh chung một tụ bài với H. Khi bị bắt quả tang V bỏ ch y và bỏ tiền sử dụng đánh b c t i chiếu b c nên không rõ thắng hay thua.
Nguyễn Văn H khai nhận: tham gia chơi đánh b c được thua bằng tiền cùng với T1, T, G, N, C, B, V t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. Khi đánh b c H mang theo số tiền 8.500.000 đồng sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh b c số tiền 5.000.000 đồng còn l i không sử dụng đánh b c, H cất ở trong người. H và V cùng hùn tiền đánh chung một tụ tiền đánh b c để t i vị trí ngồi. Khi bị bắt H bỏ ch y và bỏ l i số tiền sử dụng đánh b c t i chiếu b c nên không rõ thắng hay thua.
Nguyễn Văn N khai nhận: tham gia chơi đánh b c được thua bằng tiền cùng với T1, T, G, C, B, H, V t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. N mang theo số tiền 11.200.000 đồng sử dụng số tiền 2.200.000 đồng để đánh b c. N và T cùng hùn tiền đánh chung một tụ T đưa 2.000.000 đồng cho N để cùng đánh b c nên N sử dụng số tiền này để đánh b c trước còn tiền của N thì N vẫn cất ở trong người. Khi bị bắt quả tang N ném toàn bộ số tiền dùng đánh b c lên chiếu b c rồi bỏ ch y nhưng bị bắt giữ l i nên không rõ thắng hay thua.
Nguyễn Phúc T khai nhận: tham gia đánh b c được thua bằng tiền cùng với T1, G, C, B, H, V, N t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. T mang theo số tiền 18.600.000 đồng sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh b c số tiền 16.600.000 đồng còn l i không đánh b c T cất ở trong người. T và N cùng hùn tiền chơi chung một tụ T đưa cho N số tiền 2.000.000 đồng để đánh b c. Khi bị bắt T bỏ ch y nên không rõ thắng hay thua.
Nguyễn Công T khai nhận: tham gia đánh b c được thua bằng tiền cùng với T, G, C, B, H, V, N t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. T1 mang theo số tiền 500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh b c. T1 và G cùng hùn tiền đánh chung một tụ bài. Khi bị bắt T1 thua còn l i 100.000 đồng T1 ném giữa chiếu b c rồi bỏ ch y nhưng bị bắt giữ.
Huỳnh Văn G khai nhận: tham gia đánh b c được thua bằng tiền cùng với T, T1, C, B, H, V, N t i bàn ghế đá phía trước nhà của B. G mang theo số tiền 6.400.000 đồng sử dụng số tiền 400.000 đồng để đánh b c số tiền 6.000.000 đồng không sử dụng đánh b c G cất trong người. Khi đánh b c G và T1 hùn tiền đánh chung một tụ bài. Khi bị bắt quả tang G ném tiền sử dụng đánh b c xuống chiều b c rồi bỏ ch y nhưng bị bắt giữ.
Căn cứ vào biên bản bắt người ph m tội quả tang và lời khai của Huỳnh Văn B Huỳnh Văn G Nguyễn Văn H Nguyễn Phúc T, Nguyễn Công T, Nguyễn Văn N Nguyễn Quốc V, Ph m Văn C về số tiền sử dụng tham gia đánh b c vào ngày 17/11/2020 xác định tổng số tiền Huỳnh Văn B Huỳnh Văn G Nguyễn Văn H Nguyễn Phúc T Nguyễn Công T, Nguyễn Văn N Nguyễn Quốc V, Ph m Văn C sử dụng để đánh b c là 21.100.000 đồng
Trong đó số tiền thu giữ t i chiếu b c là 7.800.000 đồng số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo Huỳnh Văn B sử dụng để đánh b c không thu giữ được theo Biên bản thu giữ vật chứng không thành ngày 19/11/2020 và số tiền 6.100.000 đồng không thu giữ được theo Biên bản thu giữ vật chứng không thành ngày 26/11/2020.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số: 232/2021/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn B ph m tội “Đánh b c” và “Gá b c”; các bị cáo Ph m Văn C, Nguyễn Văn N Nguyễn Quốc V Nguyễn Văn H Nguyễn Phúc T, Nguyễn Công T và Huỳnh Văn G ph m tội “Đánh b c”.
1. Về hình ph t:
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 35 và 58; điểm i s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Huỳnh Văn B 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) về tội “Đánh b c”.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 35; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Huỳnh Văn B 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) về tội “Gá b c”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình ph t buộc bị cáo Huỳnh Văn B phải chấp hành hình ph t chung là 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).
1.3 Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38 Điều 58; điểm i s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Ph m Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ t m giam từ ngày 21/11/2020 đến ngày 26/11/2020;
1.4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 38 và 58; điểm i s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 26/11/2020.
1.5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 35 và 58; điểm i s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Nguyễn Quốc V 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng);
Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn H 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triêu đồng).
1.6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 35 và 58; điểm i s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Xử ph t bị cáo Huỳnh Văn G 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng);
Xử ph t bị cáo Nguyễn Phúc T 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng);
Xử ph t bị cáo Nguyễn Công T 35.000.000 (ba mươi lăm triệu đồng).
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 05 tháng 01 năm 2022 bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Ph m Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t (xin hưởng án treo).
Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: kháng cáo của các bị cáo là trong thời h n luật định Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới; các bị cáo từng bị xử ph t vi ph m hành chính về hành vi đánh b c nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh b c thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên kháng cáo của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Bị cáo Huỳnh Văn B cho các bị cáo khác đánh b c t i nhà của mình và cùng tham gia đánh b c là để thỏa mãn nhu cầu đánh b c của bản thân không thu lợi không rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác đánh b c nên cấp sơ thẩm truy tố xét xử bị cáo B về tội “Gá b c” là không có căn cứ vi ph m nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Từ những căn cứ phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N và Ph m Văn C; hủy 01 phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo Huỳnh Văn B về tội “Gá b c”.
Bị cáo C, N không tranh luận trong lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N và Ph m Văn C được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa có căn cứ xác định như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 17/11/2020 Nguyễn Công T Nguyễn Phúc T Nguyễn Quốc V Nguyễn Văn H Huỳnh Văn G, Nguyễn Văn N, Ph m Văn C được Huỳnh Văn B rủ đến nhà B t i khu phố K phường T thị xã T tỉnh Bình Dương để ăn uống rượu khi đến nhà B, H rũ và cả nhóm đồng ý đánh bài thắng thua bằng tiền (Bài binh xập xám). Cả nhóm đánh đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thị xã T phát hiện vi ph m quả tang. Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh b c thắng thua bằng tiền như sau:
- Huỳnh Văn B sử dụng 6.000.000 đồng để đánh b c;
- Ph m Văn C sử dụng 3.000.000 đồng để đánh b c;
Nguyễn Quốc V sử dụng 3.500.000 đồng để đánh b c;
Nguyễn Văn H sử dụng 3.500.000 đồng để đánh b c;
Nguyễn Văn N sử dụng 2.200.000 đồng để đánh b c;
Nguyễn Phúc T sử dụng 2.000.000 đồng để đánh b c;
Nguyễn Công T sử dụng 500.000 đồng để đánh b c;
Huỳnh Văn G sử dụng 400.000 đồng để đánh b c;
Quá trình điều tra truy tố và xét xử các bị cáo thừa nhận hành vi đánh b c thắng thua bằng tiền nêu trên. Hành vi đó là tội ph m tội ph m các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm ph m trật tự công cộng trật tự trị an xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi đánh b c trái phép bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện.
Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh b c là 21.100.000 đồng đã đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời bị cáo B dùng chỗ ở của mình để đánh b c với tổng số tiền trên 20.000.000 đồng. Do đó bị cáo B bị truy tố và xét xử 02 tội “Đánh b c” và “Gá b c” theo quy định t i khoản 1 Điều 321 và điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự các bị cáo khác bị truy tố và xét xử về tội “Đánh b c” theo quy định t i khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo C và N kháng cáo xin giảm nhẹ hình (xin ph t tiền hoặc hưởng án treo).
Xét kháng cáo của các bị cáo:
Về hình ph t đối với bị cáo C và N, bị cáo C và N đã bị Công an xử ph t vi ph m hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh b c nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù mà không xử ph t bằng tiền là phù hợp.
Tuy nhiên, xét thấy số tiền bị cáo C dùng vào việc đánh b c 3.000.000 đồng và bị cáo N dùng vào việc đánh b c 2.200.000 đồng là không lớn. Ngày 04/7/2018 các bị cáo C, N bị Công an xử ph t mỗi bị cáo 1.500.000 đồng các bị cáo đã chấp hành nộp ph t cùng ngày qua thời h n 01 năm kể từ ngày nộp ph t các bị cáo không vi ph m hành vi vi ph m mới như vậy các bị cáo được coi là chưa bị xử ph t vi ph m hành chính (Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Bị cáo C, N có nhiều tình tiết giảm nhẹ như ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi ph m tội đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm i s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo C đầu thú được áp dụng tình tiết giảm nhẹ t i khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo C N có chưa có tiền án tiền sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ không có tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải t o bản thân, tính chất mức độ của tội ph m được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ph m tội là đồng ph m có vai trò không đáng kể trong vụ án nên có đủ các điều kiện cho hưởng án treo. Do đó chuyển hình ph t tù có thời h n sang hình ph t tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe các bị cáo đồng thời t o điều kiện cho bị cáo chăm sóc gia đình và việc cho hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội. Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận.
Xem xét l i các phần khác của bản án sơ thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo Huỳnh Văn B không ngăn cản các bị cáo khác đánh b c t i nhà mình và bị cáo cùng tham gia đánh b c với tổng số tiền trên 20.000.000 đồng là ph m vào tình tiết định khung t i điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo B về tội “Đánh b c” và “Gá b c” là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên về hình ph t, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo B hình ph t chính là hình ph t tiền cho 02 tội là vi ph m nguyên tắc áp dụng hình ph t quy định t i điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Cấp phúc thẩm kiến nghị Tòa án cấp trên xem xét l i phần này.
Án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo C, N được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo C, N và đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm về tội danh (Gá b c) đối với bị cáo B là chưa phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ph m Văn C và Nguyễn Văn N; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 232/2021/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương như sau:
1.1. Tuyên bố các bị cáo Ph m Văn C và Nguyễn Văn N ph m tội “Đánh b c”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 38 và 58; các điểm i s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Ph m Văn C 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 38 và 58; các điểm i s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Ph m Văn C và Nguyễn Văn N cho Ủy ban nhân dân phường T thị xã T tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Ph m Văn C và Nguyễn Văn N không phải chịu.
3. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thị xã T (4); - Viện kiểm sát nhân dân thị xã T; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T; - Công an thị xã T; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Ủy ban nhân dân phường T (2); - Bị cáo (2); - Tổ Hành chính Tư pháp (2); - Lưu: hồ sơ vụ án, LTH, 16. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tài |