vanban.org

Bản án 128/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị T được ly hôn ông Nguyễn T. 2/ Về con chung: Có 01 con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị T ly hôn Nguyễn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________
Bản án số:128/2022/HNGĐ-ST
Ngày:21-8-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thùy Hương

2/ Ông Trần Phi Long

- Thư ký phiên tòa Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: bà Đinh Thị Thu Hòa, Chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Thôn P1, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Qm (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Khối Q A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Q (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 4 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, xét xử, nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn T kết hôn với nhau vào ngày 12/12/2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, kết hôn hoàn toàn tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau tại nhà chồng ở khối QA, phường Đ, thị xã Đ. Trong thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 4/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, ông T là người ăn chơi có sử dụng ma túy, đây là nguyên nhân chính dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Đến đầu tháng 5/2022, bà T bỏ về nhà cha mẹ sống tại thôn P1, xã Đ. Nay tình cảm vợ chồng không còn và không thể sống chung với nhau nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn T. Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Văn Phúc Thịnh, sinh ngày: 25/6/2020, hiện nay con đang sống với bà T tại xã Đ, bà T có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 13 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, xét xử bị đơn ông Nguyễn T trình bày: Về thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn, ông T hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bà T và không bổ sung gì thêm. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chung sống với nhau tại khối Q A, phường Đ, vợ chồng không có phát sinh mâu thuẫn, việc bà T cho rằng ông T sử dụng ma túy và ăn chơi là không đúng, bản thân ông T lo kinh tế nuôi con, mâu thuẫn vợ chồng không lớn nhưng bà T lại bỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Nay tình cảm vợ chồng vẫn còn, ông T mong muốn vợ về chung sống nên không đồng ý ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung như bà T trình bày là đúng, nếu ly hôn ông T có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà T và ông T không có ý kiến gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự chấp hành tốt quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: bà T và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn ông T, về con chung giao con là Nguyễn Văn Phúc Thịnh, sinh ngày: 25/6/2020 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn bà Phan Thị T và bị đơn ông Nguyễn T; bị đơn ông Nguyễn T đang cư trú tại khối Q A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Q nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn T là vợ chồng có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 12 tháng 12 năm 2019 tại UBND phường Đ, việc kết hôn là tự nguyện. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, bà T cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 4/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, ông T là người ăn chơi có sử dụng ma túy đây là nguyên nhân chính vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu tháng 5/2022 cho đến nay, bản thân bà T không còn tình cảm với ông Nguyễn T. Ông T cho rằng bản thân ông không có sử dụng ma túy, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nhưng bà T lại tự ý bỏ về nhà cha mẹ sống, ông T vẫn còn thương vợ và mâu thuẫn vợ chồng không trầm trọng nên không đồng ý ly hôn.

Qua xác minh thì địa phương thì bà T và ông T hiện nay không sống chung với nhau, Tòa án đã 2 lần hòa giải động viên vợ chồng về chung sống nhưng không thành, bà T và ông T cũng không có biện pháp nào khắc phục mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên toà bà T vẫn cương quyết xin được ly hôn ông T, ông Nguyễn T mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có ý kiến gì. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử đã thống nhất cho bà T được ly hôn ông T là phù hợp với các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà T và ông T khai thống nhất có một con chung Nguyễn Văn Phúc T, sinh ngày: 25/6/2020, hiện nay con đang ở với bà T tại thôn P1, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q. Bà T và ông T đều có nguyện vọng và đủ điều kiện nuôi con, nhưng HĐXX xét thấy con Nguyễn Văn Phúc T hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình thì “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng”. Do đó, để đảm bảo tốt nhất về mọi mặt và không làm thay đổi môi trường sống cho con nên HĐXX thống nhất giao con Nguyễn Văn Phúc T cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phan Thị T không yêu cầu ông Nguyễn T cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa các đương sự tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Phan Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị T được ly hôn ông Nguyễn T.

2/ Về con chung: Có 01 con chung.

Giao con Nguyễn Văn Phúc T, sinh ngày: 25/6/2020 cho bà Phan Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phan Thị T không yêu cầu ông Nguyễn T cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Về án phí: Bà Phan Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001017 ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Phan Thị T đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa.

- TAND tỉnh Quảng Nam;

- THADS thị xã Điện Bàn;

- Những người tham gia tố tụng;

- UBND phường Đ;

- Lưu hồ sơ.

Lê Minh Tân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phi Long Nguyễn Thị Thùy Hương

Lê Minh Tân

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ