vanban.org

Bản án 128/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H.

[1] Buộc chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C có trách nhiệm trả cho chị Trần Thị H số tiền hụi là 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) và tiền vốn vay là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), tổng cộng 67.000.000đ (Sáu mươi bảy triệu đồng). [2] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C cùng có tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 3 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2022/DS-ST
Ngày: 25-10-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi
và hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vui

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Hồng

2. Bà Trần Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên toà.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2022/QĐXX-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: ấp 7, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 8, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 8, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 3 năm 2022 và những lời khai khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Chị Trần Thị T có nợ tiền hụi và tiền vay của chị cụ thể:

* Tiền hụi:

Nguyên vào năm 2014 chị Trần Thị H làm chủ thảo hụi 02 dây hụi tiền mở (khui) hụi theo vụ lúa 01 năm mở (khui) hụi 01 lần. Hụi có lãi thông qua hình thức đến kỳ mở (khui) hụi bỏ thăm ai kêu thăm cao được trúng thăm lĩnh hụi. Ví dụ hụi 1.000.000đ kêu thăm 300.000đ trúng thăm được lĩnh hụi. Hụi viên đóng góp tiền hụi sống (chưa lĩnh hụi) là 700.000đ.

Hụi viên nào lĩnh hụi rồi thì đóng góp tiền hụi (hụi chết) là 1.000.000đ. Chủ thảo có nhiệm vụ tổ chức mở (khui) hụi đúng ngày và gom tiền các hụi viên đóng góp tiền hụi chết, tiền hụi sống. Chủ thảo trừ tiền hoa hồng chủ thảo được hưởng mỗi lần người trúng thăm được lĩnh hụi là 500.000đ.

Số tiền còn lại hụi chết, hụi sống chủ thảo sẽ giao cho người trúng thăm được lĩnh hụi. Cụ thể các dây hụi:

1. Dây hụi 1: Hụi 1.000.000đ/4 tháng mở (khui) hụi 01 lần.

- Mở hụi lần đầu ngày 10/01/2014 âl.

- Kết thúc hụi (mãn hụi) ngày 20/05/2020 âl.

Dây hụi gồm có 18 phần hụi viên tham gia đóng góp hụi. Trong đó chị T tham gia 01 phần. Chị T đã đóng góp được 04 kỳ tiền đóng góp hụi sống là 2.155.000đ. Đến kỳ mở (khui) hụi lần thứ 05 chị T bóc thăm kêu hụi là 360.000đ trúng thăm được lĩnh hụi. Chủ thảo gom tiền 01 phần hụi viên đóng góp tiền hụi sống là 13 phần x 640.000đ =8.320.000đ; 04 phần hụi chết là 4.000.000đ, tổng cộng 12.320.000đ.

Chủ thảo trừ tiền hoa hồng chủ thảo được hưởng là 500.000đ. Số tiền còn lại là 11.820.000đ chủ thảo đã giao đủ cho Trần Thị T. Trần Thị T còn phải đóng góp lại là 13 lần tiền góp hụi chết là 13.000.000đ. Chị T đã đóng góp được 07 lần là 7.000.000đ. Chị T còn phải đóng góp tiền hụi chết đến mãn hụi là 06 lần số tiền là 6.000.000đ. Nhưng chị T không đóng góp tiền hụi chết. Chị là chủ thảo phải đóng chàng tiền đóng góp hụi chết cho chị T đến mãn hụi là 6.000.000đ.

2. Dây hụi 2: Hụi 1.000.000/tháng mở (khui) hụi 01 lần.

- Dây hụi này mở (khui) hụi lần đầu là ngày 15/03/2018.

- Mãn hụi ngày 15 tháng 7 năm 2019.

- Dây hụi gồm có 17 phần hụi viên tham gia đóng góp tiền hụi. Trong dây hụi này Trần Thị T tham gia đóng góp tiền hụi là 01 phần hụi viên. Mở hụi lần đầu ngày 15 tháng 03 năm 2018. Chị T kêu 300.000đ trúng thăm được lĩnh hụi. Các hụi viên đóng góp tiền hụi sống 01 phần hụi viên là 700.000đ x 16 phần = 11.200.000đ. Chủ Thảo trừ tiền hoa hồng chủ thảo được hưởng của hụi viên là 11.200.000đ - 500.000đ còn lại là 10.700.000đ chị là chủ thảo gom hụi đã giao đủ số tiền 10.700.000đ cho Trần Thị T. Chị Trần Thị T đóng góp tiền hụi chết cho chị được 05 lần tiền góp hụi chết là 5.000.000đ. Chị Trần Thị T còn phải đóng góp tiền hụi chết đến mãn hụi là 11 lần số tiền là 11.0000.000đ nhưng T không đóng chị phải đóng chàng hụi chết cho chị T đến mãn hụi số tiền là 11.000.000đ.

Tổng số tiền chị đóng chàng tiền góp hụi chết đến mãn 02 dây hụi cho chị T là 6.000.000 đ + 11.000.000đ = 17.000.000đ.

Chị nhắc nhở chị T nhiều lần chị T hẹn lần lựa đến nay không giao trả cho chị số tiền 17.000.000đ.

* Tiền vay:

Ngoài số tiền góp hụi nói trên chị Trần Thị T còn nhờ chị mượn nợ dùm cho chị T như sau:

Vào ngày 23/7/2018 âl chị Trần Thị T có đến nhà chị nói với chị là chị T mua đất bị thiếu tiền nhờ chị mượn dùm số tiền là 10.000.000đ trong vòng 20 ngày chị T trả lại cho chị trả người ta.

Đến ngày 27/7/2018 âl chị T đến nhà chị nói là chồng chị T là anh Bùi Văn C gặp người ta bán bầy vịt đẻ anh C muốn mua mà không đủ tiền nên chị T nhờ chị mượn thêm cho chị T 10.000.000đ nữa để cho chồng chị mua bầy vịt, chị thấy tình thân thiết giữa gia đình chị và gia đình chị T bấy lâu nay nên chị mượn thêm cho chị T là 10.000.000đ, chị T hẹn 20 ngày trả đủ số tiền mà chị T mượn trước trả luôn cho chị trả lại cho người ta.

Đến ngày 11/8/2018 chị T đến nhà chị nói chồng chị T mua vịt về mà vịt bị bệnh không đẻ nổi chị T nhờ chị mượn cho chị T 30.000.000đ để chị T đáo hạn ngân hàng rồi chị T sẽ làm hồ sơ vay lại chị T trả lại số tiền mà chị T nhờ chị mượn dùm, chị thấy tình thân thiết giữa hai gia đình xưa nay nên chị mượn thêm cho chị T là 30.000.000đ nữa để chị T trả tiền ngân hàng, chị T vay lại để có tiền lo cho việc nuôi vịt.

Đến ngày 17/8/2018 âl chị gặp chị T, chị hỏi chị T “chưa vay được tiền sao”, chị T nói với chị là 02 ngày nữa nhận tiền ngân hàng chị T đem tiền ra cho chị trả lại cho người ta.

Đến ngày 19/8/2018 âl chị đến nhà chị T thì chồng chị nói là chị T đã bỏ nhà đi rồi. Chị điện thoại cho chị T thì không nghe máy. Đến ngày 24/8/2018 âl chị điện thoại thì chị T nghe máy, chị T nói ít bữa về chị gởi tiền cho chị trả cho người ta. Việc chị T mượn tiền là nhằm sử dụng chung cho gia đình nên anh Bùi Văn C chồng chị T cũng phải có trách nhiệm.

Chị Trần Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C phải trả cho chị số tiền mà chị đã chàng hụi 02 dây hụi đến khi mãn hụi là 17.000.000đ và tiền vốn vay là 50.000.000đ không yêu cầu tính lãi.

* Đối với bị đơn chị Trần Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C:

Chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 8, xã Trung Ngãi, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long nhưng hiện anh C có mặt tại địa phương, chị T không có mặt tại địa phương đi không trình báo với C quyền địa phương. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng chị T anh C cố tình không hợp tác.

Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

- Nguyên đơn đã nộp:

+ 02 danh sách hụi bản photo.

+ 01 biên nhận bản gốc.

+ Đơn xác nhận.

+ Phiếu chuyển phát nhanh.

Tài liệu chứng cứ của bị đơn cung cấp: Do bị đơn chị Trần Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C vắng nên không cung cấp tài liệu chứng cứ.

Ngoài ra đương sự không còn yêu cầu nào khác giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng từ khi thụ lý vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C cố tình vắng mặt không lý do, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án, chị T anh C biết rõ chị Trần Thị H kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản với anh chị. Nên quyết định xét xử vắng mặt chị T anh C theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hợp đồng góp hụi giữa chị Trần Thị H với chị Trần Thị T là hợp đồng được ký kết trên cơ sở tự nguyện. Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ là giao tiền hụi cho chị T xong. Nhưng chị T không đóng lại tiền hụi chết cho chị H 02 dây hụi đến nay đã mãn, chị H đã chàng hụi cho chị T 02 dây hụi số tiền là 17.000.000đ. Nay chị H yêu cầu chị T anh C trả cho chị số tiền hụi là 17.000.000đ.

Hợp đồng vay tài sản giữa chị Trần Thị H với chị Trần Thị T ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận.

Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ giao cho chị T nhận số tiền vốn vay 03 lần là 50.000.000đ. Sau khi vay thì chị T không trả tiền cho chị H. Nay chị H yêu cầu chị T và anh C có trách nhiệm trả cho chị số tiền vốn vay là 50.000.000đ, chị không yêu cầu tính lãi.

Theo giấy biên nhận ngày 04/11/2019 nội dung “Tôi tên Trần Thị T sinh năm 1974 nay tôi có thừa nhận là thiếu chị Trần Thị H sinh năm 1971 là 50.000.000đ (Năm chục triệu đồng)”. Theo chị H trình bày chữ viết trong biên nhận ngày 04/11/2019 là do chị T viết.

Từ những căn cứ trên mặc dù chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C vắng mặt nhưng có căn cứ xác định chị T anh C còn nợ chị Trần Thị H số tiền hụi là 17.000.000đ và tiền vốn vay là 50.000.000đ.

Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 465, 466, 471 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C cùng có trách nhiệm nộp 3.350.000đ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, 465, 466, 471 Bộ luật dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H.

[1] Buộc chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C có trách nhiệm trả cho chị Trần Thị H số tiền hụi là 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) và tiền vốn vay là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), tổng cộng 67.000.000đ (Sáu mươi bảy triệu đồng).

[2] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T và anh Bùi Văn C cùng có trách nhiệm nộp 3.350.000đ (Ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Chị Trần Thị H không phải nộp tiền án phí. Hoàn trả cho chị Trần Thị H số tiền 1.675.000đ (Một triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số N0 0008187 ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong các khoản tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.

Cỡ chữ