- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Quang L - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2021/HS-ST Ngày 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Thạch.
Ông Đinh Công Hoạt.
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Toàn, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiêm, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 828/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Lưu Quang L, tên gọi khác: không có
Sinh ngày 09 tháng 5 năm 1997 tại thành phố Th Ng, tỉnh Th Ng
Nơi cư trú: Tổ 11, phường Ch H, thành phố Th Ng, tỉnh Th N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12 phổ thông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn D, sinh năm 1968 và bà Lê Thị B, sinh năm 1972; vợ: Chưa có; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 26/5/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
- Người làm chứng: Ngô Tiến N, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Trú tại : xóm Cây Cài, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 16/4/2021, tổ tuần tra Đội Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Cao Bằng làm nhiệm vụ tại Tổ 4, phường D Tr, thành phố C, tỉnh Cao Bằng phát hiện Lưu Quang L (sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú: Tổ 11, phường Ch H, thành phố Th Ng, tỉnh Th N) có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra phòng trọ L đang ở phát hiện dưới gối trên đệm ngủ có 01 khẩu súng bằng kim loại màu xám, dài khoảng 15cm, phần tay cầm ốp gỗ màu nâu, bên trong hộp tiếp đạn có 01 viên đạn màu vàng có ký hiệu S&B9mmM14. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định đối với khẩu súng và viên đạn. Tại Kết luận giám định số 3082/C09-P3 ngày 29/4/2021 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế bắn đạn cỡ 7,65x17mm, thuộc vũ khí quân dụng, súng còn sử dụng để bắn được. Hiện tại khẩu súng trên không bắn ra các vỏ đạn, đầu đạn của những vụ án trước hiện đang lưu giữ trong tàng thư dấu vết súng đạn của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an. 01 viên đạn gửi giám định là đạn cỡ 09x18mm (đạn K59), thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại còn sử dụng để bắn được.”
Quá trình điều tra, Lưu Quang L khai nhận: Năm 2018, L có quen biết với một người đàn ông tên là T (biệt danh “T Ảm”, không rõ họ tên cụ thể), sinh khoảng năm 1981-1984, trọ tại khu vực Ngã ba Sông Công thuộc địa phận phường Phổ Cò, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng tháng 11/2018, L đến phòng trọ của T chơi nhìn thấy ở trên mặt bàn uống nước có một khẩu súng ngắn, màu xám. L nói với T “Khẩu súng này đẹp thế, ước gì em cũng có”. T trả lời “Nếu thích thì anh tặng em luôn”, “Cầm lấy về mà dùng”. Sau đó, T lấy một viên đạn màu vàng lắp vào hộp tiếp đạn của khẩu súng rồi đưa cho L. L đem súng về nhà ở Tổ 11, phường Ch H, thành phố Th Ng, tỉnh Th N cất giấu ngoài vườn và không nói cho ai biết. Cuối năm 2020, L lên thành phố Cao Bằng làm nhân viên quán Karaoke Th H của bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1966; trú tại Tổ 4, phường D Tr, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) và ở luôn nhà trọ của bà Thu tại Tổ 4, phường D Tr, thành phố C. Quá trình làm việc, L có va chạm, mâu thuẫn với khách và một số đối tượng xã hội nên ngày 20/01/2021, L về Thái Nguyên thăm gia đình rồi mang theo khẩu súng lên Cao Bằng để phòng thân. Ngày 24/01/2021, L lấy khẩu súng trên về để lại nhà tại Ch H, thành phố Th Ng, tỉnh Thái Nguyên, đến ngày 26/3/2021 L tiếp tục đem khẩu súng lên Cao Bằng cất giấu tại vườn ngô phía sau quán Karaoke Th H. Ngày 07/4/2021, Ngô Tiến N (sinh năm 2000; trú tại xóm Cây Cài, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) sang phòng trọ của L chơi thì thấy khẩu súng để ở trên giường vì trước đó L có lấy lên phòng để lau chùi. Nhật hỏi L lấy súng ở đâu nhưng L không nói cho Nhật biết mà bảo Nhật đi ra khỏi phòng và cất súng xuống dưới đệm ngủ. Khoảng 23 giờ ngày 15/4/2021, L đem khẩu súng giấu để ở dưới gối do vài ngày trước L bị một số người đến phòng trọ dọa nạt. Đến ngày 16/4/2021, L bị Công an thành phố Cao Bằng kiểm tra phát hiện lập biên bản theo quy định.
Hành vi của Lưu Quang L đã bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Tại bản cáo trạng số 120/CTr-VKSCB(P1) ngày 30/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lưu Quang L về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lưu Quang L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là đúng.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo khẳng định quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lưu Quang L về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lưu Quang L phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lưu Quang L từ 12 tháng đến 18 tháng tù;
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng quản lý 01 khẩu súng bắn đạn cỡ 7,65 mm.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lưu Quang L không có lời bào chữa. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Lưu Quang L và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Lưu Quang L hoàn toàn phù hợp với bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản hỏi cung có sự tham gia của Kiểm sát viên về quá trình thực hiện hành vi phạm tội và phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, phù hợp với Kết luận giám định số 3082/C09-P3 ngày 29/4/2021 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 16/4/2021, tổ tuần tra Đội Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang Lưu Quang L có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng và 01 viên đạn trong phòng trọ của L tại Tổ 4, phường D Tr, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. L khai mục đích tàng trữ khẩu súng là để phòng thân. Theo Kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an thì khẩu súng và viên đạn trên thuộc vũ khí quân dụng.
Về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do trong quá trình làm việc bị cáo có mâu thuẫn với một số đối tượng xã hội nên đã tàng trữ vũ khí để phòng thân. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi nhẹ mức độ nguy hiểm của vũ khí quân dụng.
Hành vi của Lưu Quang L đã xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lưu Quang L về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lưu Quang L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, do đó cần phải xử lý nghiêm người phạm tội, đồng thời nhằm mục đích tuyên truyền pháp luật trong quần chúng nhân dân về hành vi nghiêm cấm tàng trữ sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm” Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng một trong các hình phạt bổ sung trên đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 khẩu súng bắn đạn cỡ 7,65 mm cần tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng quản lý.
Về án phí: Bị cáo Lưu Quang L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Quang L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Quang L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam là ngày 26/5/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng quản lý 01 túi niêm phong mã số NS3A05507, mặt trước túi niêm phong ghi “khẩu súng bắn đạn cỡ 7,65 mm” và được đóng dấu tròn của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an và có chữ ký họ tên của những người tham gia niêm phong.
Xác nhận vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 152 ngày 13/9/2021.
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lưu Quang L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lưu Quang L có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Phòng ANĐT CA tỉnh; - Trại giam; - Phòng hồ sơ công an tỉnh; - Sở Tư pháp CB; - Cục THA dân sự; - Phòng KTNV&THA; - Bị cáo; - Lưu HSVA; Lưu tòa HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thụ |