- Tranh chấp gì? án dân sự — "DIEN LUC - NNTH"
- Tòa quyết gì? Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông ĐTN và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) ông VML; bị đơn bà NNTH.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thi Hnh án dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2021/DS-ST Ngày: 27-5-2021 V/v tranh chấp về hợp đồng mua bán điện. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B - THNH PHỐ H
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Như Thủy
- Ông Nguyễn Đình Rành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang– Thư ký Tòa án nhân dân Quận B – Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B, Tp.H: Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận B, THnh phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 509/2020/DSST ngày 21/12/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐST-DS ngày 07/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2021/QĐST-DS ngày 05/5/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực THnh phố H TNHH; địa chỉ trụ sở: 35 TĐT, phường BN, Quận M, Thành phố H; Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông ĐTN, sinh năm 1967; địa chỉ: 102/3 TKC, phường TĐ, Quận M, THnh phố H và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) ông VML là người đại diện theo ủy quyền tại Giấy ủy quyền số 1360/UQ-PCTT ngày 20/10/2020 và Giấy ủy quyền số 3349/UQ-EVNHCMC ngày 16/7/2020 Tổng Công ty Điện lực THnh phố H TNHH (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Bà NNTH, sinh năm 1961; địa chỉ: 395/9 đường 79, khu phố 1, phường TQ, Quận B, THnh phố H (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/5/2014, bà NNTH ký Giấy đề nghị mua bán điện gửi Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực THnh phố H TNHH - Công ty Điện lực TT. Trên cơ sở đề nghị của bà H, ngày 12 tháng 5 năm 2014 Chi nhánh Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH – Công ty Điện lực TT (gọi tắt là Công ty) đã ký Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/003684, mã khách Hng: PE0500017XXXX với bà NNTH tại địa chỉ số 95/5 đường 15, phường TQ, Quận B, Thành phố H.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà NNTH đã thanh toán đầy đủ và đúng hạn tiền điện sử dụng hàng tháng. Tuy nhiên, từ tháng 11 năm 2019 đến nay bà NNTH đã không thanh toán tiền điện đúng hạn theo Hợp đồng đã ký nêu trên.
Bà NNTH nợ tiền điện quá kỳ hạn thanh toán 02 hóa đơn như sau:
1. Hóa đơn GTGT (tiền điện) số 436095285 khách hàng sử dụng điện từ ngày 16/10/2019 đến 15/11/2019 với số tiền 709.982 đồng (bảy trăm lẻ chín triệu chín trăm tám mươi hai ngàn đồng).
2. Hóa đơn GTGT (tiền điện) số 438909576 khách hàng sử dụng điện từ ngày 16/11/2019 đến 16/12/2019 với số tiền 23.995 đồng (hai mươi ba ngàn chín trăm chín mươi lăm đồng)
Tổng số tiền nợ 02 hóa đơn: 733.977 đồng (bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng). Tổng Công ty Điện lực THnh phố HTNHH đã thông báo ngừng cung cấp điện từ ngày 02/01/2020 nhưng đến nay bà H vẫn chưa thanh toán tiền điện còn nợ cho Công ty.
Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận b buộc bà NNTH thanh toán đầy đủ số tiền 02 kỳ là 733.977 đồng (bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng).
Bị đơn là bà NNTH đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐST-DS ngày 07/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2021/QĐST-DS ngày 05/5/2021 nhưng bà H vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B phát biểu ý kiến:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định về: thẩm quyền thụ lý quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Nguyên đơn và người đại diện đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp số 478032/20 ngày 28/5/2020 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH có nội dung đăng ký doanh nghiệp: sản xuất điện, chi tiết sản xuất điện năng; truyền tải và phân phối điện, chi tiết: phân phối và kinh doanh điện năng; căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là bà NNTH phải trả số tiền còn nợ lại theo Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/003864, mã khách Hng: PE0500017XXXX ngày 12/5/2014 thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng mua bán điện” được quy định tại Điều 688, Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015 Điều 22 Luật Điện lực năm 2004.
Căn cứ vào Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/003684, mã khách Hng: PE0500017XXXX ngày 12/5/2014 thể hiện bà NNTH có địa chỉ tại số 395/9 đường 79, khu phố 1, phường TQ, Quận B, Thành phố H thỏa thuận mua bán điện phục vụ sinh hoạt tại địa chỉ 95/5 đường 15, phường tq, Quận b, Thành phố H. Căn cứ Kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường TK, Quận B, Thành phố H: đương sự NNTH sinh năm 1961 có hộ khẩu thường trú tại 395/9 đường 79, khu phố 1, phường TQ, Quận B, Thành phố H, hiện đang thực tế ở tại địa phương, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận B, Thành phố H theo quy định tại Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện, khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hình thức:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn là NNTH đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến Hnh xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn, bị đơn theo theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét, giấy đề nghị mua điện ngày 07/5/2014, Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 14/003684, mã khách Hng: PE0500017XXXX ngày 12/5/2014 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Thông tư số 19/2014/TTBCT của Bộ Công thương ngày 18/6/2014 về việc ban Hnh mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt, nên đủ căn cứ xác định bị đơn Bà NNTH có mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại địa chỉ 95/5 đường 15, phường TA, Quận B, Thành phố H
Căn cứ các Hóa đơn GTGT (tiền điện) số 436095285, Hóa đơn GTGT (tiền điện) số 438909576 thì tổng số tiền điện mà bị đơn đã sử dụng theo hợp đồng trên là 733.977 đồng (bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng).
Căn cứ vào Thông báo thời điểm ngừng cung cấp điện do quá hạn thanh toán ngày 29/12/2019, 02/01/2020 của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận bị đơn là bà NNTH còn nợ lại tiền điện chưa thanh toán tổng cộng là 733.977 đồng (bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng). Do đó, nguyên đơn đã ngừng cung cấp điện là đúng theo quy định tại Khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực năm 2004.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà NNTH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên có căn cứ quy định tại Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự 2015, Khoản 1 Điều 23, điểm a Khoản 1 Điều 46 Luật Điện lực năm 2004 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là bà NNTH phải trả cho nguyên đơn số tiền 733.977 đồng (bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 227, Khoản 1 Khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 280, Điều 430, Điều 440, Điều 357, Khoản 2 Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 23, điểm a Khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực 2004.
- Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi Hnh án dân sự.
- Căn cứ điểm b Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm.
Xử:
1. Về hình thức: xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông ĐTN và (hoặc) ông LXP và (hoặc) bà LNHH và (hoặc) ông VML; bị đơn bà NNTH.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH.
- Buộc bà NNTH phải thanh toán 02 kỳ tiền điện của các Hóa đơn GTGT (tiền điện) số 436095285, Hóa đơn GTGT (tiền điện) số 438909576 tổng cộng là 733.977 đồng (bảy trăm ba mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng)cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH.
Trong trường hợp bà NNTH chậm thi thi khoản tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành cho theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi Hnh tại thời điểm thanh toán.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà NNTH phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Tổng Công ty Điện lực Thành phố H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0042084 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi Hnh án dân sự Quận B, Thành phố H cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH.
Trường hợp bản án được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH và bà NNTH được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố H trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp.H; - VKSND Quận B, Tp.H; - Chi cục THADS Quận B, Tp.H; - Các đương sự; - Lưu (TK Trang). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phương |