- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái L - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái L; sửa 154/2020/HS-ST ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2020/HS-PT Ngày: 28-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Th m phán thành viên: Ông Trần Văn Luông.
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 133/2020/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thái L. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2020/HS-ST ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thái L, sinh năm 1994, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn D(đã chết) và bà Võ Thị L, sinh năm 1964; bị cáo có vợ tên Nguyễn Kim P, sinh năm 1993 và 01 người con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/02/2020 đến ngày 28/02/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phạm Hiếu T và bị hại nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 19/02/2020, Nguyễn Thái L, Phạm Hiếu T đi theo xe tải của Công ty TNHH V đến tại Công ty TNHH E Việt Nam, địa chỉ: Đường số 6, Khu công nghiệp VSIP, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi đến Công ty E thì tài xế đậu xe tải trước công ty để chờ đến giờ vào giao các linh kiện điện tử cho Công ty nói trên. Lúc này, Nguyễn Thái L cùng Nguyễn Hiếu T đi bộ vào trong Công ty để tìm xe nâng tay vận chuyển hàng hóa từ xe tải vào kho hàng. Khi đi vào bên trong kho, nơi có dây băng chuyền sản xuất loa của Công ty E thì Nguyễn Thái L nhìn thấy trên băng chuyền sản xuất có nhiều Loa thành phẩm không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt, Nguyễn Thái L rủ Nguyễn Hiếu T cùng thực hiện thì được Nguyễn Hiếu T đồng ý. Nguyễn Thái L đi vào vị trí băng truyền sản xuất, sẵn có thùng nhựa màu xanh ở gần đó nên Nguyễn Thái L lấy 10 cái loa thành phẩm trên băng chuyền sản xuất hiệu Kenwood mã sản phẩm P22-745985 để vào thùng nhựa màu xanh và bưng ra vị trí của Nguyễn Hiếu T. Khi Nguyễn Thái L vào lấy tài sản thì Nguyễn Hiếu T đứng ở ngoài cảnh giới, đồng thời kéo xe nâng tay đến để Nguyễn Thái L bỏ hộp đựng loa mà Nguyễn Thái L vừa lấy trộm được lên trên, cả hai đẩy tài sản ra khỏi kho sản xuất, rồi Nguyễn Thái L kéo xe nâng tay cùng tài sản đến kho hàng khác bên trong Công ty cất giấu vào bên trong kho. Sau đó, cả hai đi ra trước kho chờ để xuống hàng.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, bảo vệ Công ty E là ông Nguyễn Viết H phát hiện tại xưởng thành phẩm sản xuất loa bị mất loa tại vị trí SYS của Công ty nên đã báo lại Công ty. Sau khi trích xuất Camera tại xưởng phát hiện Nguyễn Thái L, Nguyễn Hiếu T đã chiếm đoạt 10 cái loa trên nên tiến hành bắt giữ đối tượng cùng tang vật và trình báo sự việc đến Công an Đồn VSIP. Công an Đồn VSIP đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập hồ sơ vụ việc và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T (nay là thành phố T) giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 21/02/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự T kết luận: (10 cái loa) hiệu Kenwood, ký hiệu P22745985 trị giá 5.316.570 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2020/HS-ST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Nguyễn Thái L 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 19/02/2020 đến ngày 28/02/2020.
Bản án còn tuyên bị cáo Phạm Hiếu T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 17/6/2020, bị cáo Nguyễn Thái L có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng theo thẩm quyền và quy định tại Điều 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung, bị cáo Nguyễn Thái L kháng cáo xin hưởng án treo, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, trường hợp của bị cáo Nguyễn Thái L đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái L, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng xử phạt bị cáo Nguyễn Thái L 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, thời gian thử thách tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo biết lỗi, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 19/02/2020, tại Công ty E Việt Nam (địa chỉ: Đường số 6, khu công nghiệp VSIP, thành phố T, tỉnh Bình Dương) lợi dụng sơ hở của Công ty về việc trông coi tài sản, Nguyễn Thái L và Phạm Hiếu T đã bàn bạc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty E. Nguyễn Thái L lén lút chiếm đoạt 10 loa thành phẩm hiệu Kenwood, mã sản phẩm P22-745985 để vào thùng nhựa màu xanh để đem ra chỗ Phạm Hiếu Tđang đứng ngoài cảnh giới thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thái L thực hiện đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thái L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thái L, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc làm ổn định. Do vậy, trường hợp của bị cáo đủ điều kiện để cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho xã hội; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái L. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thái L không phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái L; sửa 154/2020/HS-ST ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, thời gian thử thách tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 28/8/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Thái L về Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai trực tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thái L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Thái L không phải nộp.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thành phố T; 2 - VKSND thành phố T; 1 - Chi cục THADS thành phố T; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thành phố T; 2 - Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Đồng 1 Nai; 1 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo; 1 - Lưu: Tổ HCTP, HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huỳnh Đức |