- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị H-Huỳnh Văn K"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TỈNH!CÀ!MAU Bản án số: 128/2020/HNGĐ-ST Ngày:14-8-2020 |
V/v ly hôn
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn
Ông Đặng Hoàng Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện!Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2020/QĐXX-ST ngày 22 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1988 (có yêu cầu xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn K, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp TT, xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
*Tại đơn khởi kiện ngày 24/02/2020, chị Bùi Thị H trình bày:
Chị H và anh K tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/6/2009. Thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan
1 điểm với nhau trong cuộc sống nên ly thân hơn 01 năm nay. Do cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị H yêu cầu ly hôn với anh K.
Thời gian chung sống, chị H và anh K có 02 con chung tên Huỳnh Thị Hải Y, sinh ngày 27/7/2009 và Huỳnh Thị Hải B, sinh ngày 10/9/2014. Khi ly hôn chị H yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.
Về nội dung: Chị H và anh K chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do chị H và anh K chung sống không còn hạnh phúc và anh chị đã ly thân nên cần xử lý cho anh chị được ly hôn; con chung hiện chị H nuôi dạy nên cần giao chị H tiếp tục nuôi dạy, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn K. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh K có địa chỉ tại ấp TT, xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh K nhưng anh K không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị H và vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh K theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng
2 chị H, ngày 24/02/2020 chị có yêu cầu xin vắng mặt đến khi kết thúc vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Huỳnh Văn K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/6/2009. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện, chị H yêu cầu ly hôn với anh K. Xét thấy, yêu cầu của chị H là có cơ sở. Bởi vì, tại đơn khởi kiện chị H cho rằng thời gian chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và ly thân với khoản thời gian dài mà không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Bùi Thị H và anh Huỳnh Văn K được ly hôn.
[4] Về con chung: Thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Huỳnh Thị Hải Y, sinh ngày 27/7/2009 (giới tính nữ) và Huỳnh Thị Hải B, sinh ngày 10/9/2014 (giới tính nữ). Xét thấy, việc chị H yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung là có căn cứ. Bởi vì, con chung hiện chị H nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của các cháu. Tại bản tự khai ngày 20/02/2020 cháu Hải Y có yêu cầu và nguyện vọng được do chị H nuôi dạy. Do cháu Hải Y đã trên 07 tuổi nên yêu cầu của cháu là phù hợp. Hơn nữa, quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án có thông báo cho anh K biết yêu cầu của chị H về việc yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng anh K không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị H. Vì vậy cần tiếp tục giao con chung cho chị H nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị H không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Xét thấy, tại đơn khởi kiện chị H xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, nợ chung không có nên chị không yêu cầu giải quyết, tại xác nhận ngày 24/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã BB, huyện Thới
3 Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận tại thời điểm xác nhận không có ai yêu cầu về nợ liên quan đến vợ chồng chị H, anh K, vì vậy Hội đồng không xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Xét xử vắng mặt đối với chị Bùi Thị H và anh Huỳnh Văn K.
2.Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Huỳnh Văn K được ly hôn.
3.Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Thị Hải Y, sinh ngày 27/7/2009 (giới tính nữ) và Huỳnh Thị Hải B, sinh ngày 10/9/2014 (giới tính nữ) cho chị Bùi Thị H tiếp tục nuôi dạy. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh K không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 24 tháng 02 năm 2020 chị H có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011026 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
4
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; -Lưu hồ sơ. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! !!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ! !!!!!!!Nguyễn!Kiều!Trang! 5 |