vanban.org

Bản án 128/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 23/01/2018. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn L - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 128/2018/HSST
Ngày: 30-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Tâm.

2. Ông Ngô Văn Hòa.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2018, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 128/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Đặng Văn L, sinh năm 1984, tại tỉnh Hòa Bình; thƣờng trú: Khu phố N, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; tạm trú: Tổ N, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944; bị cáo có vợ tên Phạm Thị H, sinh năm 1985 và có 01 con sinh năm 2008; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 24/2010/HSST ngày 27/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An (nay là thị xã Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt Đặng Văn L 03 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2011. Bản án số 500/2014/HSST ngày 30/12/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt Đặng Văn L 04 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2017; bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/01/2018 cho đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1986. (Có mặt)

Thƣờng trú: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1981; (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Khu phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1985. (Có mặt)

Thƣờng trú: Khu phố N, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

Tạm trú: Tổ N, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967. (Vắng mặt)

Chỗ ở: Khu phố L, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 23/01/2018, Đặng Văn L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave S biển số 61H1 – 035.80 đi từ phƣờng B về phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đi ngang nhà số 45/30B, đƣờng ĐT743, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, L nhìn thấy anh Phạm Văn T đang cầm chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F3 ngồi chơi trên vỉa hè. Thấy vậy, L điều khiển xe áp sát dùng tay trái giật điện thoại và tăng ga bỏ chạy. Anh T tri hô cùng ngƣời dân truy đuổi, trong khi bỏ chạy L làm rơi chiếc điện thoại xuống đƣờng, đuổi theo đƣợc khoảng 01km thì bắt giữ đƣợc L cùng vật chứng là chiếc ốp lƣng điện thoại. Sau đó, anh T báo Công an phƣờng T đến lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định. Công an đã truy tìm chiếc điện thoại nhƣng không tìm thấy.

Vật chứng tạm giữ gồm: 01 chiếc ốp lƣng điện thoại, trong suốt không màu và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S biển số 61H1 – 035.80.

Tài sản chiếm đoạt trong vụ án là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu trắng trị giá 3.500.000 đồng (theo Biên bản kết luận định giá tài sản số 19/BB.ĐG ngày 31/01/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An). Hiện điện thoại không thu hồi đƣợc, bị hại Phạm Văn T yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 7.000.000 đồng.

Ngày 01/02/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Đặng Văn L về tội “Cƣớp giật tài sản” theo Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản cáo trạng số 121/CT – VKS ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Đặng Văn L về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trình bày luận tội: Nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại số tiền 3.500.000 đồng. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền sự, có 02 tiền án chƣa xóa án tích. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã nộp số tiền 3.500.000 đồng là trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F3 để bồi thƣờng cho bị hại Phạm Văn T nên không xem xét về trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc vỏ ốp lƣng điện thoại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho anh Phạm Văn T nên không xem xét.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S biển số 61H1 – 035.80, đây là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị H, chị H không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại chiếc xe trên cho chị H nên không xem xét.

- Bị hại Phạm Văn T yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 7.000.000 đồng nhƣng bị cáo không đồng ý. Bị hại yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Bị cáo Đặng Văn L không tham gia tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà: Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Bích L, ngƣời làm chứng Nguyễn Thị T vắng mặt. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những ngƣời nêu trên.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn L khai nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 23/01/2018, L điều khiển xe mô tô biển số 61H1 – 035.80 đi từ phƣờng B về phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đi ngang nhà số 45/30B, đƣờng ĐT743, khu phố Đ, phƣờng T, L nhìn thấy anh Phạm Văn T đang cầm chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F3 ngồi chơi trên vỉa hè. Thấy vậy, L điều khiển xe áp sát dùng tay trái giật điện thoại và tăng ga bỏ chạy. Anh T tri hô cùng ngƣời dân truy đuổi, trong khi bỏ chạy L làm rơi chiếc điện thoại xuống đƣờng, đuổi theo đƣợc khoảng 01km thì bắt giữ đƣợc L cùng vật chứng là chiếc ốp lƣng điện thoại. Công an đã truy tìm chiếc điện thoại nhƣng không tìm thấy. Sau đó, anh T báo Công an phƣờng T đến lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định.

Vật chứng tạm giữ gồm: 01 chiếc ốp lƣng điện thoại, trong suốt không màu và 01 xe mô tô biển số 61H1 – 035.80.

Tài sản chiếm đoạt trong vụ án là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F3 màu trắng trị giá 3.500.000 đồng (theo Biên bản kết luận định giá tài sản số 19/BB.ĐG ngày 31/01/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá số 19/BB.ĐG ngày 31/01/2018.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo giật điện thoại di động hiệu Oppo F3 của bị hại là nguy hiểm cho xã hội. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 121/CT – VKS ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Đặng Văn L về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 với tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện, có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 3.500.000 đồng tại cơ quan thi hành án để bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại, do đó cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền sự, có 02 tiền án chƣa đƣợc xóa án tích, có con nhỏ.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản” là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã nộp số tiền 3.500.000 đồng là trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F3 để bồi thƣờng cho bị hại Phạm Văn T.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc vỏ ốp lƣng điện thoại, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho anh Phạm Văn T nên không xem xét.

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S biển số 61H1 – 035.80, đây là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị H, chị H không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại chiếc xe trên cho chị H nên không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 23/01/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Đặng Văn L bồi thƣờng cho bị hại Phạm Văn T số tiền 3.500.000 đồng. Gia đình bị cáo Đặng Văn L đã nộp số tiền 3.500.000 đồng bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại Phạm Văn T theo Biên lai thu tiền số 00788 ngày 17/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An. Bị hại Phạm Văn T đƣợc nhận lại số tiền 3.500.000 đồng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Đặng Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ