vanban.org

Bản án 128/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lâm Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lam The V - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 128/2018/HS-ST
Ngày 26 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;

Ông Nguyễn Thành Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh An - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Lâm Thế V (tên gọi khác: Q), sinh ngày 14-12-1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nguyễn Văn C, Phường X, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: D khu phố B, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Hoàng A (đã chết) và bà Lê Thị Cẩm N; vợ Nguyễn Thị Trúc Đ và 02 người con; tiền án: Bản án số 112/2017/HSST ngày 18-5-2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11-3-2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1993, trú tại: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11-3-2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã T phối hợp với Công an phường L tuần tra trên đường Cách Mạng Tháng Tám, khi đến khu vực thuộc khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Nguyễn Thanh H điều khiển xe mô tô 60B5-814.74 chở Lâm Thế V có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra thì phát hiện trong túi xách V đang đeo có 01 hộp đựng mắt kính, bên trong có 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy đá) nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra, V khai nhận: V là người nghiện ma túy, khoảng 22 giờ ngày 11-3-2018, V đến tiệm sửa xe mô tô trên đường L, Phường Y, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy xe đang sửa nhưng đã đóng cửa. V liên lạc gặp bạn tên K (không rõ nhân thân, địa chỉ) nhờ mua giúp ma túy để sử dụng thì K đồng ý, V đưa cho K 1.200.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, K đến đưa cho V 01 hộp đựng mắt kính, bên trong có 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy. V giấu hộp mắt kính chứa ma túy vào túi xách mang theo người rồi đặt xe qua dịch vụ Grab để về khu vực phường L, thị xã T thuê khách sạn sử dụng ma túy. Nguyễn Thanh H là tài xế Grab chở V từ quận G đến địa bàn phường L, thị xã T thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Theo Bản kết luận giám định số 154/MT-PC54 ngày 15-3-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có trọng lượng là 1,4314 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 127/CT-VKS-TA ngày 22-6-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lâm Thế V về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến gì về nội dung Bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội và kết luận về tội nhẹ hơn, xác định hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo nhằm mục đích sử dụng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chứ không truy tố tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và xử lý vật chứng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên xét thấy hành vi của bị cáo đã thực hiện có yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố lại xác định hành vi của bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là chưa phù hợp nên tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã kết luận về tội nhẹ hơn là “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.

Lời khai của bị cáo Lâm Thế V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11-3-2018, tại đoạn đường C thuộc khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương, trong lúc bị cáo đang cất giữ ma túy trong người để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Theo kết luận giám định thì chất ma trên là Methamphetamine, trọng lượng 1,4314 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số 127/CT-VKS-TA ngày 22-6-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo Điểm c Khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố trình bày lời luận tội và kết luận hành vi bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định nên chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn thực hiện, đi mua ma túy rồi cất giấu trong người để mang về sử dụng, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:

Số lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư niêm phong số 154/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là chất cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Thành H là tài xế Grab không biết bị cáo tàng trữ ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên K là người mua ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lâm Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lâm Thế V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-3-2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư niêm phong số 154/ PC54 là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-6-2018)

3. Về án phí:

Bị cáo Lâm Thế V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ