vanban.org

Bản án 128/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị P về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Trần Phương V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Trần Phương V. 2. Về con chung: Chị Phạm Thị P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Phạm Phương T, sinh ngày 17/10/2013.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị P xin ly hôn với Trần Phương V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị P về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Trần Phương V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 128/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 07-11-2018
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Minh Lý

2. Ông Võ Hùng Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 571/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1983; HKTT: xã T, huyện D, tỉnh B; hiện cư trú tại: phường P, thành phố T, tỉnh B. Vắng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Phương V, sinh năm 1981; cư trú tại: phường P, thành phố T, tỉnh B. Vắng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 7 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị P trình bày:

Chị P và anh Trần Phương V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, được cha mẹ hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05/2012, quyển số 01/2012, ngày 30/01/2012. Từ khi kết hôn đến nay, vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh V không có trách nhiệm với gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị P và anh V có 01 con chung là cháu Trần Phạm Phương T, sinh ngày 17/10/2013. Khi ly hôn, chị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Phương V trình bày:

Anh V thống nhất với lời trình bày của chị Phạm Thị P về thời gian chung sống, về thời gian kết hôn. Anh V xác định mâu thuẫn vợ chồng là do chị P có quan hệ với người đàn ông khác nên anh V đã gây thương tích cho chị P. Nay, trước yêu cầu xin ly hôn của chị P thì anh V không đồng ý.

Về con chung: Anh V và chị P có 01 con chung là cháu Trần Phạm Phương T, sinh ngày 17/10/2013. Khi ly hôn chị P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung thì anh V cho rằng, trường hợp phải ly hôn thì anh V cũng đồng ý để chị P trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn chị Phạm Thị P và bị đơn anh Trần Phương V có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự theo quy định tại Điều 68 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, xác minh, thu thập và giao nhận chứng cứ đầy đủ, đúng trình tự theo quy định. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 48, Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm.

+ Đối với những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật; tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 02/7/2018, chị Phạm Thị P có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Trần Phương V nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn anh Trần Phương V đang cư trú tại thành phố T, tỉnh B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B.

[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị P và bị đơn anh Trần Phương V vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị P và anh V.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 30/01/2012, chị P và anh V đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa chị P và anh V là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa chị P và anh V là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, chị P xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có hạnh phúc; anh V không chăm lo cho gia đình làm cho gia đình gặp rất nhiều khó khăn, từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Anh V thì cho rằng, vợ chồng mâu thuẫn là do chị P có người đàn ông khác nên anh V mới gây thương tích cho chị P. Việc, chị P và anh V không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình mà gây thương tích cho nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa chị P và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P được ly hôn với anh V.

[2.2]. Về con chung: Chị P và anh V có 01 người con chung là cháu Trần Phạm Phương T, sinh ngày 17/10/2013. Khi ly hôn chị P có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi con. Xét thấy, chị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh V cũng đồng ý. Vì vậy, để cháu T phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị P và anh V, giao cháu T cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3]. Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3]. Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là có cơ sở.

[4]. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị P phải chịu 300.000 đồng; anh V không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị P về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Trần Phương V.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Trần Phương V.

1.2. Về con chung: Chị Phạm Thị P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Phạm Phương T, sinh ngày 17/10/2013.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phạm Thị P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022355 ngày 09/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ