- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Xuân T - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Xuân T phạm tội “Môi giới mại dâm”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI Bản án số: 127/2026/HSST Ngày: 11/02/2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt
2. Ông Nguyễn Minh Tú
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích Thủy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lan Phương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/02/2026, tại trụ sở TAND khu vực 4 - Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2026/TLST-HS ngày 22/01/2026 đối với bị cáo:
Tạ Xuân T, sinh năm 1991; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Xóm C, thôn N, xã H, thành phố Hà Nội
Nơi ở hiện nay: Số E ngõ A T, phường Y, thành phố Hà Nội.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Tạ Văn N và bà Nguyễn Thị Xuyên
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giam từ ngày 06/10/2025, hiện đang tạm giam tại trại tam giam số 1 Công an thành phố H – Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ngõ B, H, phường H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
2. Chị Hà Thị H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số G, ngõ C, N, phường C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
3. Ông Lý Quang T2, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND Khu vực 4 - Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 22 giờ 20 phút ngày 05/10/2025, tổ công tác Công an phường C, thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính khách sạn N2 (địa chỉ: số I, Lô N khu đô thị D, Cầu G, thành phố Hà Nội) phát hiện tại phòng 102: Trần Văn H1 (sinh năm: 1983; HKTT: Tổ A phường C, Hà Nội) và Nguyễn Thị T1 (Sinh năm: 1993; HKTT: phường H, thành phố Hà Nội) đang thực hiện hành vi mua bán dâm; tại phòng 202: Lý Quang T2 (sinh năm: 1995; HKTT: Tổ 5 Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai) và Hà Thị H (Sinh năm: 1993; HKTT: H, N, Thanh Hóa) đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa H1, T1, T2, H về trụ sở giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, H1, T1, T2, H đều khai việc mua bán dâm là do Tạ Xuân T (quản lý ở quán K số A T, phường Y, thành phố Hà Nội) là người môi giới. Sau đó, tổ công tác đã đưa Tạ Xuân T về trụ sở giải quyết.
Cơ quan điều tra thu giữ:
+ 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax màu vàng hồng đã qua sử dụng (của Tạ Xuân T.
+ 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14; 01 bao cao su đã qua sử dụng (của Nguyễn Thị T1).
+ 01 điện thoại Galaxy A32 màu tím (đã qua sử dụng), bên trong lắp sim số 0982.715.645 (của Hà Thị H).
+ 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A03S màu đen. lắp sim số 0779.687.649 (của Lý Quang T2)
+ 01 bao cao su đã qua sử dụng
Tại Cơ quan điều tra, Tạ Xuân T khai: Do trước đây Hà Thị H và Nguyễn Thị T1 là nhân viên của quán K do T làm quản lý nên biết H và T1 là gái bán dâm. Khoảng 21 giờ ngày 05/10/2025, Lý Quang T2 gọi điện nhờ T tìm hai gái bán dâm, T đồng ý và gửi ảnh hai gái bán dâm qua Zalo cho T2 và báo giá mua dâm là 5.000.000 đồng/lần/người và đề nghị Thục thanh toán tiền mua dâm qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng M2 số 0978117780 mang tên Tạ Xuân T. T2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số 109877621344 mang tên Lý Quang T2 chuyển số tiền 10.000.000đ đến tài khoản ngân hàng M2 của T. Sau đó, T gọi qua zalo cho gái bán dâm là Nguyễn Thị T1 (sử dụng zalo tên “Diệp”) và Hà Thị H (sử dụng zalo tên “Quẩy.Vân A”) để giới thiệu đi bán dâm cho T2 và H1, T1 và H đồng ý. T thỏa thuận sẽ trả cho T1 và H mỗi người 4.000.000 đồng tiền bán dâm còn T hưởng lợi số tiền 2.000.000đ. Đến khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, T2 và H1 đến nhà nghỉ N3 (địa chỉ: số I, lô C, KĐT D, Cầu G, Hà Nội) để thuê phòng. Anh Phàn Ồng C (Sinh năm: 2002; HKTT: xã G, tỉnh Lào Cai, là lễ tân nhà nghỉ) cho T2 thuê phòng 202, H1 thuê phòng 102 với giá tiền là 280.000đ/1 phòng. H1 và T2 đã trả tiền thuê phòng. Sau đó, T2 gửi vị trí và số phòng cho T để gọi T1 và H đến bán dâm. T gọi điện thông báo cho T1 đến phòng 202 và H đến phòng 102 nhà nghỉ N3 để bán dâm. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, tổ công tác Công an phường C kiểm tra hành chính nhà nghỉ N3 phát hiện như nêu trên.
Lời khai của Lý Quang T2, Trần Văn H1, Hà Thị H và Nguyễn Thị T1 phù hợp với lời khai của Tạ Xuân T. H1, T2 khai rủ nhau đi mua dâm, H1 đã đưa T2 5.000.000đ, sau đó T2 chuyển khoản cho T 10.000.000đ để trả tiền mua dâm, sau đó sự việc như nêu trên.
Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động Iphone 16pro max thu giữ của Tạ Xuân T phát hiện trong zalo có các tin nhắn thể hiện việc T môi giới cho T2, H và T1 đi mua bán dâm. Kiểm tra tài khoản ngân hàng M2 của T có giao dịch đã nhận số tiền mua dâm là 10.000.000đ do T2 chuyển đến. Tiến hành cho hai gái bán dâm là Hà Thị H và Nguyễn Thị Thu N1 dạng Tạ Xuân T, kết quả: H và Thu nhận D được Tạ Xuân T là người môi giới cho H và T1 đi bán dâm ngày 5/10/2025.
Đối với Lý Quang T2, Trần Văn H1 đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính “Mua dâm”; quy định tại Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 29/12/2025, Công an phường C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000đ.
Đối với Hà Thị H, Nguyễn Thị T1 đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính “Bán dâm”, quy định tại Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 29/12/2025, Công an phường C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt: 400.000đ.
Các điện thoại đã thu giữ của các đối tượng có sử dụng vào trao đổi việc mua bán dâm.
Ngày 29/12/2025, gia đình Tạ Xuân T đã tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000đ.
Đối với nhà nghỉ N3 số 9, lô C, KĐT mới D, phường C, Hà Nội do ông Vũ Bá M (sinh năm: 1951, Nơi thường trú: Số A, ngõ I, G, phường G, H, Hà Nội) là chủ hộ kinh doanh, hoạt động kinh doanh có đầy đủ giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự và giấy chứng nhận đủ điều kiện về an toàn PCCC. Khi Lý Quang T2 và Trần Văn H1 đến thuê phòng và hoạt động mua bán dâm với Hà Thị H, Nguyễn Thị T1 trong nhà nghỉ, chị Nguyễn Thị D1 là người được ông M ủy quyền chịu trách nhiệm về hoạt động của nhà nghỉ và anh P ông C là lễ tân khách sạn không biết việc T2 và H1 thuê phòng để hoạt động mua bán dâm với H và T1. Tuy nhiên, khi T2, H1 đến thuê phòng, anh C lễ tân khách sạn chưa vào sổ khai báo lưu trú cho khách với Cơ quan Công an, đã vi phạm Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ về hành vi “Kinh doanh lưu trú không thực hiện thông báo việc lưu trú từ 01 đến 03 người lưu trú”. Công an phường C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Vũ Bá M về hành vi kinh doanh lưu trú không thực hiện thông báo việc lưu trú từ 01 đến 03 người lưu trữ, quy định tại Điểm d, khoản 2, Điều 9 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Tại bản có trạng số 255/CT-VKSKV4 ngày 19/01/2026 của VKSND khu vực 4, Hà Nội đã truy tố bị cáo Tạ Xuân T về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 điều 328 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với các bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Tạ Xuân T phạm tội “Môi giới mại dâm”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Xuân T từ 40 đến 44 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 16 Promax màu vàng hồng đã qua sử dụng (của Tạ Xuân T); 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 (của Nguyễn Thị T1); 01 điện thoại Galaxy A32 màu tím (đã qua sử dụng), bên trong lắp sim số 0982.715.645 (của Hà Thị H); 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A03S màu đen. lắp sim số 0779.687.649 (của Lý Quang T2). Tịch thu tiêu huỷ: 02 bao cao su đã qua sử dụng; Tịch thu sung công số tiền 10.000.000đ (theo giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước khu vực 1 – Phòng giao dịch số 10 ngày 23/01/2026 tại Ngân hàng TMCP C1 – chi nhánh T3).
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 255/CT-VKSKV4 ngày 19/01/2026 của VKSND khu vực 4 đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 21 giờ ngày 05/10/2025, Tạ Xuân T có hành vi môi giới cho Hà Thị H, Nguyễn Thị T1 bán dâm cho Lý Quang T2 và Trần Văn H1 tại nhà nghỉ N3 (địa chỉ: số I, lô C, KĐT D, Cầu G, Hà Nội), hưởng lợi số tiền 2.000.000 đồng từ việc môi giới mại dâm. Khi H và T1 đang bán dâm cho khách thì bị tổ công tác Công an phường C kiểm tra, phát hiện.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và các giá trị đạo đức xã hội. Hành vi này không chỉ tác động tiêu cực đến an ninh, trật tự xã hội mà còn làm băng hoại đạo đức, lối sống, đặc biệt là trong giới trẻ.
Xét về nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo thì thấy: mặc dù biết pháp luật đã quy định và hậu quả của nó, nhưng do hám lợi, bị cáo đã bất chấp và vẫn cố tình phạm tội.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, nhưng phạm tội nghiêm trọng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét cần xử phạt mỗi bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng hồng, bên trong không có sim (M1 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được giá trị); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím, bên trong không có sim(M1 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được giá trị); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A32 màu tím, bên trong có 01 sim (Máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được số sim); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu đen, bên trong có 01 sim (Máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được số sim) và số tiền 10.000.000đ (theo giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước khu vực 1 – Phòng giao dịch số 10 ngày 23/01/2026 tại Ngân hàng TMCP C1 – chi nhánh T3).
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng; 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Tạ Xuân T phạm tội “Môi giới mại dâm”;
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329, 331, 333 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Tạ Xuân T 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2025.
Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng hồng, bên trong không có sim (M1 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được giá trị); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu tím, bên trong không có sim(M1 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được giá trị); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A32 màu tím, bên trong có 01 sim (Máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được số sim); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu đen, bên trong có 01 sim (Máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy – Tại thời điểm bàn giao không xác định được số sim).
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng; 01 bao cao su đã qua sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 203 ngày 23/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Hà Nội).
Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 10.000.000đ (theo giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước khu vực 1 – Phòng giao dịch số 10 ngày 23/01/2026 tại Ngân hàng TMCP C1 – chi nhánh T3). Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND thành phố Hà Nội; -VKSND cùng cấp; - Công an thành phố Hà Nội; - Phòng THADS khu vực 4 – Hà Nội; - Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Vinh |