- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Trang Hoàng Ngọc - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trang Hoàng N 05 (năm) năm tù, về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 24/7/2024.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2025/HS-ST Ngày 29-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Quí
2. Bà Lê Thị Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2025/HSST-QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trang Hoàng N. Sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: XX Võ Văn Kiệt, Phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở: YY Nguyễn Văn Luông, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trang Hoàng T, sinh năm 1958 và bà: Huỳnh Thị Thu Ng, sinh năm 1960; bị cáo có vợ và có 02 con (con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/7/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trang Hoàng N quen biết với đối tượng có tài khoản Telegram “Cậu bé bán diêm” qua mạng xã hội và nhận cất giấu pháo cho đối tượng này với tiền công là 150.000 đồng/ngày. Ngày 20/7/2024, đối tượng này liên lạc với Hoàng N yêu cầu cung cấp địa chỉ và số điện thoại để giao pháo. N cung cấp số điện thoại 0585761855 và địa chỉ ZZ Văn Thân, Phường 8, Quận 6 (địa chỉ của Trường học cơ sở Vân Thân, Phường 8, Quận 6) để nhận pháo. Sau đó, có đối tượng (chưa xác định lai lịch) giao cho Ngọc gồm:
+ 01 thùng carton chứa 27 củ pháo tỏi;
+ 01 thùng carton chứa 12 thanh pháo diêm;
+ 01 bao tải lớn chứa 588 thanh pháo tép;
+ 06 bao pháo banh;
+ 01 thùng carton chứa 17 cục pháo loại 09 ống;
+ 01 thùng carton chứa 173 bịch pháo ống loại nhỏ.
N đem số pháo này về cất giấu tại nơi ở của N tại địa chỉ XX Võ Văn Kiệt, Phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 15 giờ ngày 23/7/2024, tài khoản “Cậu bé bán diêm” tiếp tục yêu cầu N đến chợ đầu mối Hóc Môn liên lạc với người trung chuyển là Lê Trung V theo số điện thoại 0928791905 để nhận 03 thùng pháo. N dùng phần mềm Ahamove đặt 02 xe mô tô của anh Nguyễn Hữu Nh (số điện thoại 0329319455) sẽ giao hàng tại địa chỉ ZZ Phạm Văn Chí, Phường 8, Quận 6 (địa chỉ của Trường tiểu học Phạm Văn Chí) và xe của anh Mai H S số điện thoại 0369475575 sẽ giao tại AA Văn Thân, Phường 8, Quận 6. Anh S và anh Nh liên lạc với anh V để nhận pháo. Khoảng 16 giờ cùng ngày, anh V giao cho anh Nh 02 thùng carton chứa pháo, giao cho anh S 01 thùng carton chứa pháo để vận chuyển đến địa chỉ giao hàng như thỏa thuận với N. Anh V giữ lại 01 thùng carton để chờ tài khoản “Cậu bé bán diêm” cung cấp địa chỉ để giao cho người nhận. Do nghi ngờ nên anh V kiểm tra thùng hàng thì phát hiện bên trong là pháo nổ nên đến Công an huyện Hóc Môn trình báo. Cơ quan điều tra thu giữ 01 thùng carton do anh Việt giao nộp (ký hiệu m8).
Trong quá trình vận chuyển 03 thùng hàng để giao cho N, để tránh bị phát hiện, N hướng dẫn anh Nh và anh S đi lòng vòng qua nhiều nơi sau đó đến trước nhà thờ Bình Phước, Phường 8, Quận 6 để giao hàng. Khi anh S và anh Nh đang giao 03 thùng pháo (ký hiệu mẫu m7) cho Trang Hoàng N thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn trong quá trình truy vết phát hiện nên tiến hành kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trang Hoàng N tại YY Võ Văn Kiệt, Phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan điều tra thu giữ 06 bao pháo banh có khối lượng 30kg; 173 bịch pháo ống có khối lượng 29kg; 09 trái pháo trứng khối lượng 04kg; 17 cục pháo loại 09 ống khối lượng 32kg; 27 củ pháo tỏi khối lượng 14kg; 12 thanh pháo diêm khối lượng khoảng 05kg; 588 thanh pháo tép khối lượng khoảng 60kg (ký hiệu m1, m2, m3, m4, m5, m6), trong đó khối lượng pháo nổ là 170.8 kg; trọng lượng bao bì (thùng carton) là 3.2 kg.
Kết luận giám định số 9005/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Các vật có một đầu hình cầu đường kính 10cm gắn với thân hình trụ được nối với dây dẫn được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 16,0kg (một sáu phẩy không kilogam)
- 12 hộp giấy màu vàng mỗi hộp chứa 10 hộp giấy chứa các vật hình trụ dài 4cm được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 4,8kg (bốn phẩy tám kilogam)
- Nhiều hộp giấy màu đỏ bên trong mỗi hộp giấy chứa các vật hình trụ dài 3cm được nối lại với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m3 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 55,0kg (năm năm phẩy không kilogam)
- Nhiều gói nylon chứa các vật hình cầu vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc một đầu được nối với dây dẫn được ký hiệu mẫu m4 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 28,0kg (hai tám phẩy không kilogam)
- 17 khối hình hộp kích thước (13x13x25) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 09 ống giấy trụ đường kính 4,2cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m5 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 32,0kg (ba hai phẩy không kilogam)
- Nhiều gói nylon bên trong mỗi gói nylon chứa 05 vật có một đầu hình cầu đường kính 4cm gắn với thân trụ được nối với dây dẫn được ký hiệu mẫu m6 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 35,0kg (ba năm phẩy không kilogam)
- 38 khối hình hộp kích thước (16,5x16,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m7 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 54,2kg (năm bốn phẩy hai kilogam)
- 02 khối hình hộp kích thước (16,5x16,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3cm, được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m8 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 3,0kg.
Về vật chứng:
Thùng 01 chứa các viên pháo có một đầu hình cầu đường kính 10cm gắn với thân hình trụ được nối với dây dẫn (khối lượng ban đầu chưa lấy mẫu là 16kg).
Thùng 02 chứa các hộp pháo màu vàng mỗi hộp giấy chứa 10 hộp giấy chứa các vật hình trụ dài 4cm (khối lượng ban đầu chưa lấy mẫu là 4,8kg).
Thùng 03, thùng 04 và thùng 05 chứa nhiều hộp pháo giấy màu đỏ bên trong mỗi hộp giấy chứa các vật hình trụ dài 3cm được nối lại với nhau bằng dây dẫn (khối lượng ban đầu chưa lấy mẫu là 55kg).
Thùng 06 chứa nhiều gói nylon chứa pháo banh có hình cầu vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc một đầu được nối với dây dẫn (khối lượng ban đầu chưa lấy mẫu là 28kg).
Thùng 07 chứa các khối hình hộp kích thước (13x13x25) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 09 ống giấy hình trụ đường kính 4,2cm được nối với nhau bằng dây dẫn (khối lượng ban đầu 17 khối chưa lấy mẫu là 32kg).
Thùng 08 và thùng 09 chứa nhiều gói nylon pháo bên trong mỗi gói nylon chứa 05 vật có một đầu hình cầu đường kính 4cm gắn với thân hình trụ được nối với dây dẫn (khối lượng ban đầu chưa lấy mẫu là 35kg).
Thùng 10 và thùng 11 chứa nhiều khối hình hộp kích thước (16,5x16,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3cm được nối với nhau bằng dây dẫn (khối lượng ban đầu 38 khối chưa lấy mẫu là 54,2kg).
Thùng 12 chứa 02 khối hình hộp kích thước (16,5x16,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3cm, được nối với nhau bằng dây dẫn (khối lượng ban đầu chưa lấy mẫu là 3kg).
01 xe biển số 59K2-157.77; số máy: JF63E-1233714; số khung: RLHJF6300FX683954. Kết quả xác minh chủ sở hữu là ông Trang Hoàng Th (cha ruột của N) và không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Th.
01 (một) ĐTDĐ OPPO; 01 (một) ĐTDĐ Masstel, Ngọc dùng liên lạc vận chuyển pháo nổ về nhà cất giấu.
Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSHHM ngày 17/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trang Hoàng N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Trang Hoàng N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;
- Áp dụng điểm c khoản 3, 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trang Hoàng N mức hình phạt từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 24/7/2024. Hình phạt bổ sung phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Về vật chứng thu giữ:
+ Pháo nổ là hàng cấm lưu thông trên thị trường nên đề nghị giao 12 thùng pháo, tổng cộng có trọng lượng 228kg pháo nổ (trong đó bao gồm 225kg pháo nổ do bị cáo tàng trữ và 03kg do Lê Trung V giao nộp Cơ quan điều tra) cho Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh tiêu hủy theo quy định.
+ 01 xe biển số 59K2-157.77, số máy JF63E-1233714, số khung RLHJF6300FX683954. Kết quả xác minh chủ sở hữu là ông Trang Hoàng Th (cha ruột bị cáo N) không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Th.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, N dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện chăm lo cho cha mẹ già và con của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra vụ án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/7/2024, Trang Hoàng N đang nhận 54,2 kg pháo nổ được vận chuyển từ xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn đến trước nhà thờ Bình Phước, Phường 8, Quận 6 để cất giấu hưởng tiền công thì bị phát hiện. N còn cất giấu 170,8 kg pháo nổ tại địa chỉ XX Võ Văn Kiệt, Phường 7, Quận 6, Thành phố Hô Chí Minh là hàng cấm thì bị phát hiện bắt giữ.
Xét thấy, bị cáo Trang Hoàng N đã tàng trữ 225 kg pháo nổ (theo Kết luận giám định số 9005/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh) nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” thuộc trường hợp “Pháo nổ 120 kilôgam trở lên”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thu lợi bất chính mà bị cáo đã bất chấp hậu quả. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, về hình phạt đặt ra phải nghiêm cần có mức hình phạt tương xứng với bị cáo trong khung hình phạt nhằm tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/7/2024, bị cáo đang nhận 54,2 kg pháo nổ. Ngoài ra, bị cáo N còn cất giấu 170,8 kg pháo nổ tại nhà nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo có con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố để xét xử đối với bị cáo Trang Hoàng N về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố đã viện dẫn là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Pháo nổ là hàng hóa thuộc danh mục Nhà nước cấm tuyệt đối buôn bán, lưu thông trên thị trường nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ. Do đó, Hội đồng xét xử giao 228kg (trong đó bao gồm 225kg pháo nổ do bị cáo tàng trữ và 03kg do Lê Trung Việt giao nộp Cơ quan điều tra) pháo nổ cho Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh tiêu hủy theo quy định.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với đối tượng có tên tài khoản “Cậu bé bán diêm” thuê Ngọc cất giấu pháo nổ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đề nghị xử lý sau là có cơ sở.
- Đối với việc Lê Trung Việt giao nộp số lượng 03 kg pháo nổ, nhưng chưa xác định được người nhận, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đề nghị xử lý sau là có căn cứ.
- Đối với những người nhận giao hàng thuê Lê Trung V, Nguyễn Hữu Nh, Mai Hùng S không biết hàng hóa bên trong là hàng cấm nên không có căn cứ xử lý hình sự là phù hợp.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 3, 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Xử phạt: Bị cáo Trang Hoàng N 05 (năm) năm tù, về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 24/7/2024.
Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo Trang Hoàng N nộp số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
Giao cho Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh tiêu hủy theo quy định: 228 kg pháo nổ.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo; 01 điện thoại di động hiệu Masstel;
(Vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 115/QĐ-VKS-HS ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
3. Án phí: Bị cáo Trang Hoàng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát ND TP. HCM; (1) - Viện kiểm sát ND huyện Hóc Môn (3) - Chi cục THA DS huyện Hóc Môn; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - Bị cáo (1) - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THAHS, hồ sơ. (12) (19) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Thương |