- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Tâm.
- Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2025/DS-PT Ngày: 28-05-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng
Ông Nguyễn Hoàng Thám
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Lê Hoàng Nhựt- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 05 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giangxét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2025/TLPT- DS ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 274/2024/DS-ST ngày 28 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 104/2022/QĐ-PT ngày 16 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 143/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Tâm, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 12, đường số 2, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang Huy, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (có mặt); ông Mai Văn Bá, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Ấp 1, xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai là đại diện ủy quyền theo hợp đồng uỷ quyền ngày 03/6/2024.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thành Huân của Công ty luật TNHH Luật sư số 11 thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: 120-122 Điện Biên Phủ, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Bị đơn: Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh. Người đại diện: Ông Trần Văn Nhánh. Địa chỉ: Ấp Khánh Phát, xã Khánh Hoà, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của ông Nhánh: Ông Nguyễn Phong Phú, sinh năm 1977; thường trú; C-15-17C/C Him Lam Phú An, phường Phước Long A, Thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn Nhánh, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp Khánh Phát, xã Khánh Hoà, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc Huy, sinh năm 1979. Địa chỉ cư trú: Số 02, đường Lương Văn Cù, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Công ty Cổ phần Dược phẩm Amtex Pharma. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim Dung. Địa chỉ: Số 279 A1, ấp 1B, xã Thanh Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Công ty TNHH Thương mại dịch vụ vận tải Quốc Chương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc Chương. Địa chỉ: Số 414 Trần Văn Giàu, khu phố 9, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Đức Tâm là ông Nguyễn Quang Huy trình bày:
Ngày 28/9/2021 giữa ông Nguyễn Đức Tâm và Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh do ông Trần Văn Nhánh đại diện có ký hợp đồng mua bán hàng hoá số 01/2021/HĐMB ngày 28/9/2021 về nguyên liệu sản xuất khẩu trang và máy sản xuất khẩu trang. Theo đó, Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh sẽ thanh toán 100.000.000 đồng và sau 7 - 10 ngày phía ông Tâm sẽ giao máy móc, nguyên liệu sản xuất khẩu trang và hai nhân viên kỹ thuật đi theo để chuyển giao công nghệ. Ngày 01/10/2021 ông Tâm có ký hợp đồng vận chuyển với công ty TNHH thương mại dịch vụ vận chuyển Quốc Chương để chuyển hàng hoá và cùng ngày 01 và 02/10/2021 bên phía vận chuyển đã hoàn tất việc vận chuyển đến Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh và hai nhân viên kỹ thuật cũng theo xe để bàn giao kỹ thuật. Ngày 08/10/2021 sau khi chuyển giao kỹ thuật xong phía Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh có chuyển cho ông Tâm số tiền 500.000.000 đồng. Tổng cộng ông Tâm đã nhận 600.000.000 đồng, Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh còn nợ ông Tâm số tiền 962.895.200 đồng. Trong thời hạn 03 tháng chờ thanh toán hết hợp đồng, phía ông Nhánh nhiều lần liên hệ ông Tâm yêu cầu giảm giá, gửi lại một số mặt hàng mà ông Nhánh cho rằng khó sử dụng, ông Nhánh so sánh máy của ông Tâm bán với các máy móc đời mới và giá trị cao hơn rất nhiều nên yêu cầu trả lại máy móc nên hai bên phát sinh tranh chấp.
Nay ông Tâm vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh trả số tiền còn nợ 962.895.200 đồng (chín trăm sáu mươi hai triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm đồng) và hoàn trả máy ký gửi. Theo hợp đồng mua bán số 01/2021/HĐMB ngày 28/9/2021 (về nguyên liệu sản xuất khẩu trang và máy sản xuất khẩu trang).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2022 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh (do ông Trần Văn Nhánh đại diện) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Nhánh trình bày: Do ông Ngọc Huy giới thiệu, giữa Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh và ông Tâm có ký hợp đồng mua bán hàng hoá số 01/2021/HĐMB ngày 28/9/2021. Khi ông chuyển cho ông Tâm 100.000.000 đồng thì phía ông Tâm có cử người xuống giao hàng và nhân viên hỗ trợ kỹ thuận. Tuy nhiên, sau khi lắp ráp máy móc xong khoảng 4 – 5 ngày thì không sử dụng được, do máy móc kém chất lượng, nguyên liệu dùng để sản xuất khẩu trang cũng bị lỗi như bị cây xuyên qua, vải bị dơ, … Ông liên hệ với ông Tâm để trao đổi, thương lượng, thay thế máy móc khác và yêu cầu ông Tâm nhận lại nguyên liệu sản xuất khẩu trang thì ông Tâm có cử nhân viên xuống để hỗ trợ thực hiện khoảng 15 ngày nhưng cũng không sử dụng được. Đến khi ông mua máy mới (không phải máy sản xuất khẩu trang của ông Tâm) thì hệ thống máy móc mới vận hành được. Đối với nguyên liệu sản xuất khẩu trang thì chỉ dùng được một số, còn lại bị hư hỏng không sử dụng được. Do ông muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng nên có đưa thêm cho ông Tâm số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để ông Tâm thay thế nguyên liệu sản xuất khẩu trang khác nhưng quá trình tiếp tục thực hiện hợp đồng thì hai bên không thoả thuận được về giá cả, số lượng …. nên phát sinh tranh chấp. Ngoài ra, có phát sinh thêm chi phí ông mua thêm 03 máy nén ký theo yêu cầu của ông Tâm số tiền là 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng), trả tiền công sửa chữa máy cho thợ 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Ngoài ra, ông Tâm có yêu cầu ông ký biên bản bàn giao và nghiệm thu máy sản xuất khẩu trang tháng 10/2021 (không ghi ngày) nhưng ông không chịu ký do máy móc, hàng hoá không sử dụng được và yêu cầu ông Tâm nhận lại, nhưng ông Tâm không nhận lại.
Nay bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do máy móc, nguyên liệu không sử dụng được, ông có yêu cầu ông Tâm đến nhận lại nhưng ông Tâm không đến nhận. Nay bị đơn đồng ý trả lại những nguyên liệu sản xuất khẩu trang và 02 máy sản xuất khẩu trang cho nguyên đơn do không sử dụng được. Bị đơn đã đưa cho nguyên đơn 600.000.000 đồng, đồng ý khấu trừ 100.000.000 đồng tiền nguyên liệu đã sử dụng, số tiền còn lại 500.000.000 đồng thì yêu cầu nguyên đơn trả lại cho bị đơn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/6/2022 và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Huy trình bày: Ông là người giới thiệu ông Tâm và Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh (do ông Nhánh đại diện) ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá là máy sản xuất khẩu trang, về nguyên liệu sản xuất khẩu trang ông không có giới thiệu. Quá trình hai bên thực hiện hợp đồng thì ông Tâm có giao máy sản xuất khẩu trang và nguyên liệu sản xuất khẩu trang cho phía Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh và phía Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh có nhận được. Sau khi phía ông Tâm giao hàng xong thì có đưa hai nhân viên bên phía ông Tâm đến hỗ trợ lắp ráp và vận hành máy móc. Quá trình thực hiện nhân viên kỹ thuật yêu cầu ông Nhánh mua thêm máy nén khí, nhưng ông Nhánh mua đến cái máy nén khí thứ ba thì hệ thống mới hoạt động tuy nhiên không ổn định. Vì vậy, ông Nhánh mới mua thêm một cái máy sản xuất khẩu trang khác thì hệ thống mới hoạt động ổn định. Sau khi hệ thống máy hoạt động thì phát hiện nguyên liệu sản xuất khẩu trang có vấn đề như vải sản xuất khẩu trang bị cây xuyên qua, vải sản xuất khẩu trang bị bẩn, vải sản xuất khẩu trang bị dính vào nhau … Về trọng lượng của vải sản xuất khẩu trang thực tế không đúng với trọng lượng của ông Tâm đưa ra. Về giá cả nguyên liệu sản xuất khẩu trang do ông Tâm đưa ra cao hơn giá cả thị trường tại thời điểm đó. Từ đó, ông Nhánh có trao đổi, thương lượng với ông Tâm qua điện thoại nhưng hai bên không đi đến sự thống nhất và phát sinh tranh chấp. Đối với số tiền mua các máy nêu trên và trả tiền công cho nhân viên trong quá trình lắp đặt máy do ông Nhánh chi trả. Do các bên giao kết, thực hiện hợp đồng trong thời điểm dịch covid -19 bùng phát, hạn chế việc đi lại nên người thân ông Nhánh có chuyển cho ông số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) để nhờ ông chuyển qua cho ông Tâm và ông đã thực hiện xong. Ngoài ra, phía ông Tâm có yêu cầu ông Nhánh ký biên bản bàn giao và nghiệm thu máy sản xuất khẩu trang tháng 10/2021 (không ghi ngày) nhưng ông Nhánh không chịu ký do máy móc, hàng hoá không sử dụng được và yêu cầu ông Tâm nhận lại, nhưng ông Tâm không nhận lại.
Tại văn bản số 92/ĐKKD ngày 26/7/2024 về việc cung cấp thông tin doanh nghiệp của Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư An Giang thể hiện: tình trạng pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh tạm ngừng kinh doanh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Dược phẩm Amtex Pharma và Công ty TNHH Thương mại dịch vụ vận tải Quốc Chương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 274/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 188, khoản 3 Điều 190 luật doanh nghiệp 2020.
Căn cứ vào Điều 74, Điều 562 và Điều 563 Bộ luật dân sự năm 2015 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Tâm đối với Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh về việc yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh phải trả số tiền 962.895.200 đồng (Chín trăm sáu mươi hai triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm đồng) và trả lại 01 máy ký gửi sản xuất khẩu trang FS-750.
Giành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Đức Tâm nếu có tranh chấp hợp đồng mua bán tại vụ án khác.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 22/10/2024 và 30/10/2024, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Quang Huy kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Nguyễn Phong Phú đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Văn Nhánh có văn bản trình bày ý kiến: ông Nhánh không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Yêu cầu được giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng, kháng cáo của nguyên đơn là phù hợp pháp luật; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Tâm giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 274/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đại diện nguyên đơn làm đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các đương sự xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới.
Xét yêu cầu kháng cáo của đại diện nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Ông Nguyễn Đức Tâm khởi kiện yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh phải trả cho ông số tiền 962.895.200 đồng và ông yêu cầu hoàn trả lại 01 máy ký gửi sản xuất khẩu trang FS-750.
Tại Điều 188 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một Doanh nghiệp tư nhân. Chủ Doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần”.
Tại khoản 3 Điều 190 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Chủ Doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho Doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho Doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.
Tại Điều 74 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Doanh nghiệp tư nhân không phải pháp nhân nên không có tư cách tham gia tố tụng được quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Theo các quy định nêu trên thì Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh không phải là bị đơn trong vụ án, không có tư cách tham gia tố tụng. Toà án cấp sơ thẩm có yêu cầu người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện nhưng đại diện nguyên đơn xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh, không sửa đổi đơn kiện ông Trần Văn Nhánh là chủ Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của đương sự theo Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét thấy, ông Nguyễn Đức Tâm đã khởi kiện sai người bị kiện nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và có giành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Đức Tâm trong vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp hợp đồng mua bán với ông Trần Văn Nhánh là chủ Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh tại Toà án nhân dân có thẩm quyền là có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đại diện nguyên đơn về việc yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang là có căn cứ.
Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức Tâm phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, điểm đ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Tâm.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 274/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Tâm đối với Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh về việc yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Linh phải trả số tiền 962.895.200 đồng (Chín trăm sáu mươi hai triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm đồng) và trả lại 01 máy ký gửi sản xuất khẩu trang FS-750.
Giành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Đức Tâm nếu có tranh chấp hợp đồng mua bán tại vụ án khác.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đức Tâm phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (đã nộp xong). Ông Tâm được nhận lại số tiền còn dư 200.000 đồng theo thủ tục quyết toán chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với Toà án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đức Tâm phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40.887.000 đồng (Bốn mươi triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn đồng), đã làm tròn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.443.000 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn đồng) theo biên lai số 0003780 ngày 25/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, ông Tâm còn phải nộp số tiền 20.444.000 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức Tâm phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009010 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện, tỉnh Châu Phú, tỉnh An Giang.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND huyện Châu Phú; - Chi cục THA-DS huyện Châu Phú; - Phòng KTNV& THA; - Tòa Dân sự; - Văn phòng; - Đương sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hằng |